Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

536 Định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch Quảng Ngãi đến năm 2010 

3. Mục đích của luận văn:
- Phân tích, đánh giá thực trạng của sản phẩm du lòch Quảng Ngãi trên vùng
không gian lãnh thổ và trên mối quan hệ kết hợp với các sản phẩm du lòch của các
vùng lân cận.
- Đưa ra các quan điểm phát triển, mục tiêu phát triển và hệ thống các chiến
lược khả thi cũng như các giải pháp để hình thành và phát triển các sản phẩm du
lòch Quảng Ngãi từ nay đến năm 2010 giúp các sản phẩm du lòch hấp dẫn được du
khách cũng như có khả năng cạnh tranh với sản phẩm du lòch của các vùng lân cận
và trên cả nước.
- Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này, chúng tôi có mong muốn đóng góp
những kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn có được qua quá trình làm việc
trong lónh vực kinh doanh du lòch, cùng những kinh nghiệm học hỏi qua các chuyên
gia du lòch nhằm giúp cho ngành du lòch Quảng Ngãi phát triển trên cơ sỡ sử dụng
có hiệu quả những tiềm năng mà mình có được, dựa trên nguồn nội lực và các
nguồn lực thu hút được từ bên ngoài.
-
4. Kết cấu nội dung:
Nội dung của đề tài nghiên cứu gồm có:
Lời mở đầu.
3 chương:
Chương 1: Những cơ sỡ lí luận chung về du lòch
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển ngành du lòch quảng ngãi những năm
qua.
Chương 3: Đònh hướng chiến lược và các giải pháp chủ yếu để phát triển ngành du
lòch quảng ngãi đến năm 2010.
Kết luận.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã áp dụng linh hoạt các
phương pháp nghiên cứu như phương pháp khảo sát thực tế, như quan sát và theo
dõi tình hình hoạt động của công ty du lòch Quảng Ngãi và chi nhánh của công ty
du lòch Quảng Ngãi tại thành phố Hồ Chí Minh và một số các nhà hàng, khách sạn
cũng như đi tham quan thực tế các điểm và khu du lòch của Quảng Ngãi. Từ đó thu
thập thông tin và lấy số liệu tại bàn giấy, phân tích tổng hợp các số liệu, tư liệu,
thông tin từ báo, tạp chí và có sử dụng phương pháp dự báo theo hàm xu hướng để
đưa ra các số liệu dự báo làm căn cứ để đề ra các mục tiêu cụ thể cần đạt được từ
nay đến năm 2010 cho ngành du lòch Quảng Ngãi.







5





CHƯƠNG I:NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH
1.1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ DU LỊCH
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lòch:
- Khái niệm du lòch:
Du lòch từ lâu đã là một trong những hoạt động quan trọng trong đời sống
nhân loại. Ngành du lòch hiện đại hình thành trong thế kỷ XIX cùng với sự phát
triển của nền văn minh công nghiệp, và từ sau thế giới lần thứ II đã trở thành một
trong những ngành có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất. Cho đến những năm cuối thập
kỷ 80 của thế kỷ XX đến nay, việc chi tiêu các dòch vụ liên quan đến thời gian
rảnh rỗi phát triển mạnh trên thế giới. Kinh doanh du lòch đang là một trong những
mũi nhọn kinh tế của nhiều quốc gia.Và theo dự báo thì đến năm 2020, doanh thu
du lòch quốc tế tăng nhanh hơn bất cứ lónh vực xuất khẩu nào. Đặc biệt, vòng cung
Châu Á – Thái Bình Dương vẫn là trung tâm thu hút khách du lòch quốc tế năng
động nhất.
Từ đó đến nay, đã có nhiều khái niệm khác nhau về du lòch, tuỳ theo góc độ
xem xét.
Theo Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức và Hán – Việt tự điển
của Đào Duy Anh thì du lòch có nghóa là đi chu du khắp nơi để xem xét. Theo tự
điển của Larousse thì người Phương Tây cũng hiểu du lòch là hành động du hành để
thoả mãn lạc thú. Pháp lệnh Du lòch Việt Nam số 11/1999/PL – UBTVQH được
Uỷ ban Thường Vụ quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghóa Việt Nam khoá X
thông qua ngày 08/02/1999, tại điều 10 cũng đònh nghóa “Du lòch là hoạt động của
con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham
quan – giải trí – nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất đònh”.
Nếu xem xét du lòch như là một hiện tượng xã hội, hiện tượng nhân văn làm
phong phú thêm nhận thức và cuộc sống con người, Tổ chức du lòch Thế giới
(World Tourism Organization) (WTO) đã đưa ra đònh nghóa “ Du lòch bao gồm
những hoạt động của những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình trong thời hạn không quá một năm liên tục để vui chơi, vì công
việc hay vì mục đích khác không liên quan đến những hoạt động kiếm tiền ở nơi
mà họ đến “ [14,1]
Cho đến nay, người ta đã thống nhất về cơ bản rằng tất cả các hoạt động di
chuyển của con người ở trong nước hay ra nước ngoài (trừ việc đi làm, cư trú) đều
mang ý nghóa du lòch. Nhìn chung, cũng khó để đưa ra được một đònh nghóa tương
đối đầy đủ về du lòch vì do tính chất hai mặt của khái niệm du lòch đó là du lòch một
mặt mang ý nghóa thông thường là việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi,
giải trí, …mặt khác lại được nhìn nhận dưới góc độ là hoạt động gắn với những kết
quả kinh tế do chính nó tạo ra. Do đó có thể đònh nghóa khái quát về du lòch như
sau: “Du lòch là tổng hợp các mối quan hệ về kinh tế – kỹ thuật – văn hoá – xã
hội, phát sinh do sự tác động hỗ tương giữa du khách, đơn vò cung ứng dòch vụ,
chính quyền và cư dân bản đòa trong quá trình khai thác các tài nguyên du lòch, tổ

6




chức kinh doanh phục vụ du khách”.
- Khách du lòch (visitors)
Khách du lòch còn gọi là khách viếng. Theo tổ chức Du lòch Thế Giới (WTO) năm
1968 đã chấp nhận đònh nghóa khách viếng như sau: “ Một khách viếng là một
người từ quốc gia này đi tới một quốc gia khác với một lý do nào đó, có thể là kinh
doanh, thăm viếng hoặc làm một việc gì khác”(ngoại trừ hành nghề hay lãnh
lương). Đònh nghóa này được áp dụng cho cả khách du lòch trong nước. Khách viếng
được chia làm hai loại: Du khách và khách tham quan.
Du khách (Tourists):
Du khách là khách du lòch, còn gọi là khách ở lại qua đêm (Overnight visitors). “
Du khách là khách du lòch, lưu trú tại một quốc gia trên 24 giờ đồng hồ và ngủ qua
đêm ở đó, với lý do kinh doanh, thăm viếng hay làm một việc gì khác”
Khách tham quan (Excursionists)
Khách tham quan là khách du lòch, còn gọi là khách du ngoạn hay khách ở trong
ngày (Day visitors).
“Khách tham quan là khách du lòch đến viếng thăm ở một nơi nào đó dưới
24 giờ đồng hồ và không ở lại qua đêm, với lý do kinh doanh, thăm viếng hay làm
mộtï việc gì khác”.
Chuyến du lòch (Tour) là chuyến đi được chuẩn bò trước, bao gồm tham
quan một hay nhiều điểm du lòch và quay trở về nơi khởi hành. Chuyến du lòch
thông thường có các dòch vụ về vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan và các
dòch vụ khác.
1.1.2 Sản phẩm, dòch vụ du lòch:
Đònh nghóa: “Sản phẩm du lòch là một tổng thể bao gồm các thành phần
không đồng nhất hữu hình và vô hình. Sản phẩm du lòch có thể là một món hàng cụ
thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu
không khí tại nơi nghỉ mát” (Michael M. Coltman)
Thành phần của sản phẩm du lòch:
Theo cách sắp xếp sản phẩm du lòch của Michael M. Coltman theo hướng
marketing thì tài nguyên của sản phẩm du lòch bao gồm:
- Tài nguyên thiên nhiên: Phong cảnh, công viên, hồ suối, núi non, dốc đá,
đèo, hệ động thực vật và thực vật, bãi biển, hải cảng.
- Nơi tiêu biểu văn hoá và lòch sử: Vùng khảo cổ, kiến trúc truyền thống, nghề
thủ công bản đòa, thực phẩm đặc sản, lễ lạt, nghi thức, phong tục, múa hát.
- Nơi giải trí: Công viên, sân golf, nơi cắm trại, nơi picnic, nơi bới lội, nơi chơi
ski.
- Các tiện nghi du lòch: Chiêu đãi, phục vụ nghỉ ngơi, nhà hàng, mua sắm,
trung tâm thông tin, hệ thống đăng ký giữ chỗ.
- Khí hậu
- Các tài nguyên thiên nhiên khác
- Hấp dẫn tâm lý:
Mỹ quan, thái độ hài lòng


7




Các thể loại du lòch:
Căn cứ vào nhu cầu của khách du lòch, tiềm năng du lòch và khả năng thực tế
để hình thành các thể loại du lòch :
Du lòch xanh: Là loại du lòch hòa mình vào thiên nhiên xanh với rất nhiều
mục tiêu khác nhau như tham quan thắng cảnh, tắm biển, săn bắn, leo núi nghỉ
dưỡng, chữa bệnh.
Du lòch văn hóa: Là loại hình mà du khách muốn được thẩm nhận bề dày
lòch sử, văn hóa của một nước, thông qua các di tích lòch sử, di tích văn hóa, phong
tục tập quán, bao gồm hệ thống đình, đền, chùa, nhà thờ, lễ hội các phong tục tập
quán về ăn ở, mặc, giao tiếp.
Mô hình sản phẩm du lòch.
Từ những thành phần cấu tạo của sản phẩm du lòch, người ta rút ra những
yếu tố căn bản để lập nên những mô hình sản phẩm du lòch. Tuỳ theo yếu tố thiên
nhiên của mỗi nước và quan niệm của mỗi tác giả, từ đó có những mô hình 4S, 3H,
và 6S.
Sau đây là mô hình sản phẩm du lòch 4S và 3H của Mỹ
Mô hình 4S
SEA: Biển; SUN: Mặt trời, tắm nắng; SHOP: Cửa hàng lưu niệm, mua sắm;
SEX (or SAND): Hấp dẫn, khêu gợi giới tính (hay bãi cát tắm nắng)
- Biển (Sea)
Biển là những yếu tố quan trọng để thu hút khách du lòch. Những nơi nào có
bãi biển đẹp, sạch sẽ là nơi du khách đổ xô về để tắm biển, lướt ván, phơi nắng,
nghỉ dưỡng.
- Mặt trời (Sun)
Đối với khách du lòch quốc tế, yếu tố mặt trời, ánh nắng rất quan trọng. Là
những người ở xứ lạnh, ít khi thấy ánh nắng mặt trời. Vào những mùa mưa, nhiệt
độ rất thấp và lạnh, ít người đi du lòch vào mùa này. Vì vậy, họ thường tìm đến
những vùng nắng ấm để tắm và sưởi nắng.
- Cửa hàng bán đồ lưư niệm, mua sắm (Shop)
Mua sắm rất quan trọng đối với khách du lòch, khách đi du lòch hầu hết là để thoả
mãn sự hiểu biết, kinh nghiệm. Họ muốn biết những nơi xa lạ, biết phong tục tập
quán, lối sống của dân cư đòa phương, những nét văn hoá, sinh hoạt của những sắc
tộc, bộ lạc hoang sơ,… Và khi ra về ngoài những ấn tượng, những kinh nghiệm mà
họ có được một cách vô hình, họ cần có một thứ gì đó để làm kỷ niệm cho chuyến
đi cho chính bản thân họ, cho những người thân và bạn bè. Đó là sản phẩm hữu
hình, những món quà lưu niệm mang đầy dấu ấn cho suốt cả cuộc đời của họ về
một nơi, một vùng, một nước xa xôi nào đó. Điều này gợi lại cho họ một kỷ niệm
khó phai mờ về một chuyến đi.
Cửa hàng bán đồ lưu niệm và sự mua sắm giữ một vai trò vô cùng quan
trọng trong việc thu hút khách du lòch. Điều này đã chứng minh cho ta thấy ở những
nơi nghèo nàn, các cửa hàng bán đồ lưu niệm hoặc thuế hải quan quá cao, đánh
trên sản phẩm khách du lòch mua làm quà lưu niệm, là những nơi ít khách du lòch

8




và có thể là nơi mà khách “một đi không bao giờ trở lại”. Trái lại, những nơi nào
có chính sách thuế khoá về hải quan thoáng, để khuyến khích khách du lòch mua
sắm nhiều, là những nơi khách du lòch thường lui tới và giới thiệu cho bạn bè đi du
lòch, chính những nơi này đã thu về một nguồn ngoại tệ đáng kể cho ngành du lòch.
- Yếu tố hấp dẫn giới tính (Sex) hay bãi cát (Sand)
Yếu tố hấp dẫn giới tính bao hàm nhiều ý nghóa khác nhau. Nhưng dù hiểu theo
nghóa nào đi nữa thì chữ Sex trong du lòch thể hiện tính khêu gợi, hấp dẫn và để
đáp ứng sự thoả mãn về nhu cầu sinh lý.
Nếu loại trừ yếu tố hấp dẫn giới tính (sex) thì yếu tố bãi cát (sand) cũng rất
hấp dẫn khách du lòch. Với những bãi cát trắng, mòn chạy dài dọc theo bờ biển sẽ
thu hút khách du lòch. Người ta thích phơi mình trên những bãi cát để tắm nắng,
nhìn những đợt sóng biển và cũng có nhiều người nhất là trẻ em thích nô đùa với
cát muốn làm dã tràng xe cát biển Đông, thích đắp những lâu đài, những hình
tượng thân thương hoặc chôn mình dưới cát…
Mô hình 3H
Thành phần của mô hình 3H gồm:
- Heritage : Di sản truyền thống dân tộc, di sản văn hoá, nhà thờ, chùa
chiền, lăng tẩm,…
- Hospitality : Lòng hiếu khách, khách sạn – nhà hàng
- Honesty : Lương thiện, uy tín trong kinh doanh.
1.1.3 Những động cơ thúc đẩy du lòch:
- Những động cơ thuộc về thể chất:
Nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ mà năng suất của nền kinh tế ngày
càng cao, mức sống con người ngày càng được nâng cao. Cũng chính từ sự tiến bộ
của khoa học công nghệ mà hệ quả của nó, là con người ngày càng phải đối mặt
với tình trạng ô nhiễm môi trường nhất là ở các thành phố lớn. Con người phải luôn
tất bật và căng thẳng, với công việc hằng ngày vì sự cạnh tranh giữa các công ty
ngày càng gay gắt. Chính vì thế việc đi du lòch để nghỉ ngơi, phục hồi sức khoẻ sau
những ngày làm việc căng thẳng đó là một nhu cầu hết sức cần thiết. Những ngày
nghỉ phép thường niên được coi như là một động lực làm tăng thêm sức lực để
người lao động có thể tiếp tục làm việc. Chính vì thế mà hiện nay nhiều quốc gia
trên Thế giới, trong đó có Việt Nam, đã thể chế hoá nhu cầu đi du lòch – nghỉ ngơi
để phục hồi sức khoẻ của người lao động thành luật pháp. Tại điểm 2, điều 8, Luật
Công đoàn Việt Nam qui đònh: “Công đoàn có trách nhiệm cùng cơ quan, đơn vò tổ
chức hữu quan chăm lo đời sống văn hoá, hoạt động thể dục – thể thao, tổ chức
nghỉ ngơi, du lòch cho người lao động.”
Hiến chương quốc tế về kinh tế xã hội – văn hoá ngày 16/12/1966 của Liên
hiệp quốc cũng đã nêu nội dung mỗi người đều có quyền đòi hỏi phải được nghỉ
ngơi, có thời gian rảnh rỗi, kể cả việc hạn chế hợp lý thời gian làm việc và được
nghỉ phép đònh kỳ có ăn lương.
Như vậy, những hoạt động có liên quan tới nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn, giải
trí, tiêu khiển, tham gia các hoạt động thể thao, thực hiện theo chỉ đònh hoặc lời

9




khuyên của bác sỹ về việc khám chữa bệnh bằng suối nước khoáng hoặc phương
pháp điều trò tương tự, và những động cơ khác liên hệ trực tiếp với sức khoẻ đều có
đặc điểm chung là nhằm giảm sự căng thẳng thông qua sự vận động về thể chất
của con người, đã thúc đẩy du lòch phát triển.
- Động cơ tìm hiểu khám phá:
Tính ham tìm hiểu, ước muốn trông thấy, trải qua, và học hỏi những điều
mới lạ là bản chất của con người. Khi người ta có điều kiện đọc, biết nhiều về
những đòa phương, những quốc gia, những nền văn hoá khác nhau; nghe những điều
hấp dẫn, mới lạ về một nơi nào đó thì ao ước đi du hành đến đó để khám phá. Một
số người thích những chuyến đi xa, số khác lại thích khám phá những điều mới mẻ
nhưng gần hơn. Mong muốn tham gia vào những hoạt động mới, thưởng thức những
món ăn ngon, hoà nhập vào những cộng đồng xa lạvà thử điều chỉnh mình theo
những cộng đồng xa lạ, theo tập quán mới đó, đây là những ước ao khám phá thế
giới mới và cũng là để khám phá bản thân mình,… điều này đã thôi thúc người ta
thực hiện những chuyến du lòch.
- Động cơ học tập – nâng cao kiến thức:
Việc đi du lòch để nghiên cứu, học tập trở thành một nhu cầu không thể thiếu
được chẳng những đối với các ngành học về Xã hội Nhân văn mà ngay cả các
ngành Đòa lý, Hàng hải, Thiên văn… cũng rất cần những chuyến đi thực tế. Việc
thực hiện cuộc hành trình, giao lưu, tiếp xúc xã hội đã làm cho sinh viên, học sinh
nhanh chóng trưởng thành, hình thành thế giới quan khoa học, nâng cao trình độ và
nhận thức đúng đắn về các cộng đồng dân cư khác nhau trên trái đất.
- Các động cơ tổng hợp khác
Ngoài các động cơ chính trên, ta có thể thấy được những động cơ thúc đẩy con
người đi du lòch rất đa dạng, khó có thể tổng kết hết được, nó còn có thể là tính
hiếu kỳ, sự ham thích những nét hấp dẫn của nghệ thuật dân gian, của thể thao,
sự kỳ diệu của thiên nhiên… và cũng có thể cũng là xuất phát từ óc phiêu lưu
mạo hiểm hoặc do nhu cầu giao tế xã hội.
1.2 CÁC VẤN ĐỀ VỀ CHIẾN LƯC PHÁT TRIỂN.
1.2.1 Một số vấn đề liên quan đến chiến lược và chiến lược phát triển.
Theo đònh nghóa chung nhất thì chiến lược là phương châm và kế hoạch, mưu
lược toàn cục cho một thời kỳ đấu tranh và xây dựng xã hội. [,358] Trong quản trò
kinh doanh, người ta đònh nghóa chiến lược là một tập hợp những mục tiêu và các
chính sách cũng như các kế hoạch chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó. [, 14]
Với một doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một
chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện mục tiêu đã đề ra. Với
một ngành, một đòa phương, chiến lược phát triển kinh tế là hệ thống các quan
điểm, mục tiêu, đònh hướng và chính sách cơ bản trong một thời kỳ dài hạn nhằm
thực hiện thành công đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước.
Khái niệm về quản trò chiến lược:
“Quản trò chiến lược có thể được đònh nghóa như là một nghệ thuật và khoa
học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết đònh liên quan nhiều chức năng cho

10




phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra”. Theo đònh nghóa này thì quản trò
chiến lược tập trung vào việc hợp nhất việc quản trò, tiếp thò, tài chính kế toán, sản
xuất, nghiên cứu phát triển, và các hệ thống thông tin các lónh vực kinh doanh để
đạt được thành công của tổ chức.
1.2.2 Các giai đoạn của quản trò chiến lược:
Quá trình quản trò chiến lược gồm có ba giai đoạn:
- Giai đoạn thiết lập chiến lược: bao gồm việc phát triển nhiệm vụ kinh
doanh, xác đònh các cơ hội và nguy cơ đến với tổ chức từ bên ngoài, chỉ rõ các
điểm mạnh và điểm yế bên trong, thiết lập các mục tiêu dài hạn, tạo ra các chiến
lược thay thế và chọn ra những chiến lược đặc thù để theo đuổi.
- Giai đoạn thực hiện chiến lược: Thiết lập các mục tiêu hàng năm, đặt ra
các chính sách, khuyến khích nhân viên, và phân phối tài nguyên để các chiến lược
lập ra có thể được thực hiện.
- Giai đoạn đánh giá chiến lược: đây là giai đoạn giám sát các kết quả của
các hoạt động thiết lập và thực thi chiến lược. Bước này gồm việc đo lường xác
đònh thành tích của cá nhân và tổ chức, đồng thời có những hành động điều chỉnh
cần thiết.
Quá trình quản trò chiến lược phải là một quá trình con người đạt được thành công.
Con người, bao gồm cả quản trò viên và nhân viên, sẽ tạo ra sự khác biệt.
Nội dung của luận văn chủ yếu nằm trong giai đoạn phân tích, xây dựng
chiến lược và thông qua các ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài, bên trong đã
xây dựng được để lựa chọn chiến lược.
1.2.3 Các công cụ chủ yếu để xây dựng và lựa chọn chiến lược.
Để hình thành chiến lược, phải phân tích môi trường bên ngoài và bên trong
của doanh nghiệp nhằm xác đònh mục tiêu cần đề ra, từ đó đưa ra các chiến lược và
lựa chọn các chiến lược phù hợp.
Một trong những phương pháp được sử dụng trong việc phân tích, xây dựng
và lựa chọn chiến lược đó là dựa trên việc phân tích các yếu tố bên ngoài (EFE:
External Factors Evaluation), ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (Internal
Factors Evaluation), từ đó xây dựng ma trận về các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội
và nguy cơ (SWOT: Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats) làm căn cứ để
xây dựng và lựa chọn chiến lược.
1.2.3.1 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE):
Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài cho phép các nhà chiến lược tóm tắt
và đánh giá các thông tin kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân khẩu, đòa lý, chính trò,
chính phủ, luật pháp công nghệ và cạnh tranh. Việc đánh giá ma trận này cho phép
các nhà chiến lược đánh giá được sự tác động của các yếu tố đối với hoạt động của
tổ chức trong hiện tại cũng như tương lai. Từ đó cho thấy những cơ hội (O), cũng
như các nguy cơ (T) đối với hoạt động của tổ chức. Có năm bước trong việc phát
triển một ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài.
1.Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết đònh đối với sự thành công như đã nhận
diện trong quá trình kiểm tra các yếu tố từ bên ngoài; bao gồm tổng số từ 10 đến

11




20 yếu tố, bao gồm cả những vận hội và mối đe dọa ảnh hưởng đến công ty và
ngành kinh doanh.
2. Phân loại tầm quan trọng của các yếu tố, từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất
quan trọng) cho mỗi yếu tố. Tổng số các mức phân loại phải bằng 1. Sự phân loại ở
bước này dựa theo ngành.
3. Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố quyết đònh sự thành công để cho thấy cách
thức mà các chiến lược hiện tại của công ty phản ứng với các yếu tố này, trong đó
4 là phản ứng tốt, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung bình, và 1 là
phản ứng ít.
4. Nhân tầm quan trọng của mỗi biến số với loại của nó để xác đònh tổng số điểm
về tầm quan trọng.
5. Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi biến số để xác đònh số điểm quan
trọng cho tổ chức.
Tổng số điểm quan trọng cao nhất mà một tổ chức có thể có là 4,0 và thấp
nhất là 1,0. Tổng số điểm quan trọng trung bình là 2,5. Tổng số điểm quan trọng
trên mức trung bình càng cao cho thấy tổ chức đang phản ứng tốt với các cơ hội,
các nguy cơ và ngược lại.
1.2.3.2 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong(IFE):
Đây là bước cuối cùng trong việc thực hiện cuộc kiểm soát quản trò chiến
lược bên trong. Công cụ hình thành chiến lược này tóm tắt và đánh giá những mặt
mạnh và yếu quan trọng của các bộ phận kinh doanh chức năng, từ đó xác đònh
những điểm mạnh (S) và điểm yếu (W) của tổ chức đó.
Cũng tương tự như ma trận EFE được mô tả trên, ma trận IFE cũng có thể
được thực hiện theo 5 bước như trên.
1.2.3.3 Ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ (SWOT):
Ma trận SWOT là một trong những công cụ kết hợp quan trọng từ các điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội, và những đe doạ từ môi trường bên ngoài đã được nhận
diện, giúp ta có thể xây dựng bốn loại chiến lược từ việc kết hợp các nhân tố này:
- Chiến lược kết hợp điểm mạnh – cơ hội (SO): Sử dụng những điểm mạnh
bên trong và tận dụng các cơ hội bên ngoài.
- Chiến lược kết hợp điểm yếu – cơ hội (WO): cải thiện những điểm yếu bên
trong bằng cách tận dụng những cơ hội bên ngoài.
- Chiến lược kết hợp điểm mạnh – nguy cơ (ST): Sử dụng các điểm mạnh bên
trong để né tránh hay giảm thiểu các đe dọa bên ngoài.
- Chiến lược kết hợp điểm yếu – nguy cơ (WT): là những chiến lược phòng
thủ nhằm giảm đi những yếu điểm bên trong và né tránh những đe doạ bên ngoài.
1. Liệt kê các cơ hội lớn bên ngoài của công ty.
2. Liệt kê các mối đe doạ quan trong bên ngoài công ty.
3. Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu bên trong công ty.
4. Liệt kê những điểm yếu bên trong công ty.
5. Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của chiến
lược SO vào ô tương ứng.

12




6. Kết hợp những điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của
chiến lược WO.
7. Kết hợp điểm mạnh bên trong với mối đe doạ bên ngoài và ghi kết quả của
chiến lược WT.
8. Kết hợp điểm yếu bên trong với nguy cơ bên ngoài và ghi kết quả của chiến
lược WT.
Từ việc kết hợp các yếu tố trong ma trận SWOT trên, ta có được các chiến lược, từ
đó cho phép chúng ta có những căn cứ để phân tích và lựa chọn những chiến lược
đáp ứng tốt nhất thời cơ phát triển, có tính khả thi cao nhằm sử dụng tối ưu các
nguồn tài nguyên.
Trong tất cả các sự kiện và xu hướng môi trường có thể ảnh hưởng đến vò trí
chiến lược của một công ty, ảnh hưởng cạnh tranh được xem là quan trọng nhất. Ma
trận hình ảnh cạnh tranh nhận diện những nhà cạnh tranh chủ yếu cùng những ưu
thế và khuyết điểm đặc biệt của họ. Ma trận hình ảnh cạnh tranh cũng có các bước
xây dựng tương tự hai ma trận trên nhưng có điểm khác với ma trận đánh giá các
yếu tố bên ngoài ở chỗ các yếu tố bên trong có tầm quan trọng quyết đònh cho sự
thành công cũng có thể được bao gồm trong đấy.
1.3

Vai trò của ngành du lòch trong nền kinh tế – xã hội.
1.3.1 Vò trí – vai trò của ngành Du lòch trong phát triển kinh tế và xã hội:
Như chúng ta đãbiết, du lòch từ lâu đã là một trong những hoạt động quan
trọng trong đời sống nhân loại. Từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX đến
nay, việc chi tiêu các dòch vụ liên quan đến thời gian rảnh rỗi phát triển mạnh trên
Thế Giới. Kinh doanh du lòch đang là một trong những mũi nhọn kinh tế của nhiều
quốc gia. Giá trò kinh tế của ngành du lòch không còn thuần tuý là lợi nhuận, doanh
thu tính ra tiền của nhiều doanh nghiệp kinh doanh du lòch mà còn “thặng dư”
nhiều giá trò không tính thành tiền ở các lónh vực . Du lòch là “con gà đẻ trứng
vàng” - điều không dễ gì trong điều kiện cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ khi kinh
doanh du lòch đang trở thành một trong những ngành công nghiệp hàng đầu của
tương lai.
Quỹ tiền tệ thế giới IMF thống kê, năm 1987 du lòch thế giới đem lại tổng
doanh thu 1.900 tỷ USD. Du lòch đã tạo ra từ 6% đến 10% tiền bạc tại nhiều nước
công nghiệp phát triển, kể cả đem lại nhiều việc làm. Hiện nay, ước tính mỗi năm
có 1/3 dân số toàn cầu đi du lòch, bao gồm đi ra nước ngoài và du lòch trong nước,
nghóa là trên dưới 2 tỷ người. Trung bình, mỗi du khách đi du lòch nước ngoài tiêu
tốn trên dưới 700 usd và những quốc gia đón nhận du khách sẽ được hưởng lợi phần
lớn khoản tiền đó. Du lòch tác động rất đáng kể vào nền kinh tế quốc gia, nhất là
đối với các nước đang phát triển. Thu nhập quốc dân sẽ tăng nhờ các biện pháp
kinh tế, trong đó phát triển du lòch góp phần vào việc tiêu thụ các sản phẩm trong
nước, tạo công ăn việc làm, có thêm ngoại tệ trong cán cân thanh toán của quốc
gia. Du lòch là ngành sử dụng nhiều nhân công, chi phối nhiều ngành nghề, lónh vực
khác trong nền kinh tế quốc dân. Ngoài những người làm việc trực tiếp trong các cơ
sở, tổ chức kinh doanh du lòch, có một đội ngũ đông đảo người lao động trong

13




nghiều ngành nghề, nhiều đòa phương, gián tiếp tham gia cung ứng cho ngành Du
lòch ở những mức độ khác nhau. Chính nhờ du lòch mà không ít ngành nghề truyền
thống sống được, không ít sản phẩm thủ công tiêu thụ được, đồng nghóa với tạo
công ănviệc làm cho nhiều người.
Tại Việt Nam, nhờ sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh du lòch đã
đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế quốc dân. Du lòch phát triển đã tác động tích
cực đến sự phát triển của các ngành khác như: Hàng Không, giao thông – vận tải,
bưu chính, viễn thông, thương mại, thủ công nghiệp,…. Và nó đã góp phần làm
chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng dòch vụ trong tổng thu
nhập quốc dân, tạo điều kiện cho việc thực hiện mở rộng xã hội hoá du lòch. Hiện
nay cả nước đã có 250 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, trên 1680 doanh nghiệp lữ
hành nội đòa, 3.761 cơ sỡ lưu trú. Du lòch phát triển đã tạo ra hơn 70 vạn việc làm
trực tiếp và gián tiếp cho nhiều tầng lớp dân cư, đặc biệt là thanh niên mới lập
nghiệp và lao động nữ, góp phần thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo ở một
số nơi, du lòch đã làm thay đổi cơ bản diện mạo đô thò, nông thôn và đời sống cộng
đồng dân cư. Chính mức đóng góp cho xã hội của du lòch là thước đo quy mô vò trí
của ngành.
1.3.2 Vò trí của du lòch Quảng Ngãi trong chiến lược phát triển du lòch của cả
nước:
Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lòch của cả nước, Quảng Ngãi nằm
trong không gian vùng du lòch Bắc Trung Bộ với những tiềm năng và lợi thế hết
sức quan trọng.
Trước hết, Quảng Ngãi có vò trí đòa lý rất thuận lợi, Quảng Ngãi nằm trên
trục đường giao thông chính nối từ Bắc vào Nam, có đường quốc lộ và đường sắt
xuyên Việt chạy qua. Hơn nữa, Quảng Ngãi còn có cảng nước sâu Dung Quất cùng
với hệ thống đường ngang và đường thủy nối Quảng Ngãi với các tỉnh và các đòa
phương trong cả nước, là điều kiện quan trọng để phát triển du lòch.
Bên cạnh sự thuận tiện về hệ thống giao thông và cơ sỡ hạ tầng, Quảng
Ngãi còn có tiềm năng du lòch phong phú để phát triển du lòch, kể cả tiềm năng du
lòch tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Đặc biệt, Quảng Ngãi giàu tiềm năng để
phát triển du lòch biển, với bãi biển lý tưởng như Mỹ Khê, Sa Huỳnh, và cả nguồn
tài nguyên nhân văn phong phú, tiêu biểu là các di tích thuộc nền văn hóa Sa
Huỳnh và nền văn hóa Chăm Pa. Quảng Ngãi còn nổi trội với các di tích lòch sử
cách mạng như khu căn cứ đòa Ba Tơ, khu di tích chiến thắng Ba Gia, Vạn Tường,
di tích chiến tranh Sơn Mỹ
Vò trí đòa lý quan trọng đặc biệt để phát triển du lòch vùng đó là Quảng Ngãi
nằm trong vùng du lòch Miền Trung – Tây Nguyên, Quảng Ngãi nằm kế cận các
điểm du lòch nổi tiếng của du lòch Miền Trung về phía Bắc như phố cổ Hội An;
thánh đòa Mỹ Sơn; Bình Đònh Tây Sơn với hệ thống Tháp Chàm ở phía Nam, đã
đặt Quảng Ngãi vào một không gian du lòch hấp dẫn. Có thể nói, Quảng Ngãi là
một trong những điểm du lòch quan trọng trên tuyến du lòch xuyên Việt của cả
nước. Trong tương lai, khi mà dự án hành lang kinh tế Đông Tây hoàn thành đi vào

14




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét