Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Nghiên cứu lựa chọn loài cây trồng chống sạt lở đường giao thông khu vực xã Chiềng Hắc-Mộc Châu

http://www.ebook.edu.vn
5
Đặc điểm nghiên cứu trong thời kì này, là kết hợp giữa nghiên cứu thực
nghiệm hiện trường với nghiên cứu dưới điều kiện nhân tạo ở trong phòng thí
nghiệm. Các nghiên cứu chống xói mòn bắt đầu chuyển sang hướng nghiên
cứu định hướng, tập trung vào xác định cơ chế của xói mòn, tìm công thức
toán học để mô phỏng quá trình xói mòn. Nhờ các phương tiện hiện đại,
người ta đã tiến hành nghiên c
ứu xói mòn không chỉ trong điều kiện tự nhiên
mà cả trong điều kiện nhân tạo. Có nhiều công trình nổi tiếng trong giai đoạn
này như: Ellison (1944), Wischmeier (1959-1974), Fournier (1960), Burukin
(1961), Smith (1962), Kirkhy (1969), Zakharop (1981) và Hudson (1981).
Trong giai đoạn này kết quả quan trọng nhất của nghiên cứu chống xói mòn là
phương trình cho phép xác định được lượng đất mất đi do xói mòn khi biết
một số chỉ tiêu khác. Đây là phương trình mất đất phổ dụng được xây dựng
vào những n
ăm 1950 do W.H.Wischmeier (1959) xây dựng; phương trình có
dạng như sau: A=R.K.L.S.C.P trong đó
A: lượng đất mất đi R: chỉ số về tính xói mòn của mưa
K: hệ số tính xói mòn của đất L: hệ số về chiều dài sườn dốc
S: hệ số về độ dốc C: hệ số về loại cây trồng
P: hệ số về biện pháp bảo vệ đất
Phương trình này đã làm sáng tỏ vai trò của từ
ng nhân tố ảnh hưởng đến xói
mòn. Nó có tác dụng định hướng cho nhiều nghiên cứu nhằm xác định quy
luật xói mòn ở các khu có điều kiện địa lý khác nhau. Song do sự khác nhau
về điều kiện tự nhiên, địa lý giữa các khu vực nên ta cần phải có những điều
chỉnh các hệ số sao cho phù hợp với từng vùng. Đây là quá trình nghiên cứu
đòi hỏi phải tốn kém về thời gian và kinh phí, không phải nơi nào cũng ti
ến
hành được. Hơn nữa, tập quán canh tác của mỗi dân tộc cũng khác nhau, vì
vậy hệ số về phương pháp quản lý sử dụng đất cũng không giống nhau.
Và phương trình trên xây dựng hệ số cho các kiểu cây trồng khác nhau, nhưng
chủ yếu vẫn là cho các kiểu phối hợp cây trồng trong nông nghiệp, mà chưa
http://www.ebook.edu.vn
6
tính đến sự đa dạng của thảm thực vật rừng. Đó là những khó khăn và hạn chế
của phương trình mất đất phổ dụng.
Vào những năm của thập kỷ 70, phương trình mất đất được cải tiến để áp
dụng cho đất rừng và một số loại đất phi nông nghiệp khác, gọi là phương
trình mất đất biến đổi: A= R.K.L
S
.M
V

A: lượng đất mất đi R: chỉ số về tính xói mòn của mưa
K: hệ số tính xói mòn của đất L
S
: hệ số về địa hình
M
V
: hệ số về biện pháp quản lý thực bì.
Trong phương trình này, tính phức tạp của phương trình mất đất phổ dụng đã
được giảm bớt trên cơ sở ghép các nhân tố độ dốc, chiều dài sườn dốc thành
nhân tố địa hình; nhân tố cây trồng và nhân tố bảo vệ đất thành nhân tố quản
lý thực bì. Việc áp dụng phương trình mới đã trở nên đơn giản hơn. Tuy
nhiên, mục tiêu s
ử dụng của phương trình chủ yếu vẫn là đất nông nghiệp; khi
áp dụng cho các loại đất rừng thì độ chính xác không cao, phương trình vẫn
cần phải nghiên cứu bổ sung.
Các công trình nghiên cứu ở giai đoạn này không chỉ bó hẹp ở một số
nước như: Mỹ, Liên Xô, mà đã được mở rộng ra nhiều nước trên thế giới. Tuy
nhiên, những nghiên cứu về xói mòn chủ yếu vẫn được tiến hành m
ột cách
độc lập theo những chương trình được hoạch định của từng cơ quan, từng
quốc gia. Vì vậy, cần có các tổ chức quốc tế đứng ra giữ vai trò liên kết các
nghiên cứu trong lĩnh vực này, tạo nên tính hệ thống cao trên toàn thế giới.
Giai đoạn ba, từ năm 1980 trở lại đây. Với sự phát triển của khoa học kĩ
thuật và gia tăng dân số đã thúc đẩy công vi
ệc khai phá nhiều vùng rừng
chuyển thành khu canh tác nông nghiệp. Do không coi trọng các biện pháp
bảo vệ đất, nên hàng năm trên thế giới đã bị thoái hoá chừng 20 triệu ha đất.
Vì vậy diện tích đất canh tác đã bị thu hẹp nhanh chóng, đồng thời làm biến
đổi tính chất của nhiều thành phần môi trường như: nguồn nước, thực vật,
động vật… và xói mòn là nguyên nhân chính gây nên suy thoái môi trường
hiện nay. Vì vậy trong chiến lược bảo vệ toàn cầu, b
ảo vệ đất được xem là
một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược vì sự tồn tại lâu bền của
http://www.ebook.edu.vn
7
con người. Bảo vệ đất đã trở thành chỉ tiêu cơ bản hình thành nên giá trị sinh
thái của các phương thức canh tác. Với những nhận thức trên, nghiên cứu về
xói mòn đã được tiến hành ở hầu hết các nước trên thế giới. “Báo cáo môi
trường, FAO, 1992”
Khả năng chống xói mòn, bảo vệ đất của rừng là một chỉ tiêu quan trọng
để xây dựng các biện pháp kĩ thuật bảo vệ và duy trì s
ự ổn định của đất, là cơ
sở khoa học cho việc phối hợp các loài cây, các phương thức canh tác, kỹ
thuật gây trồng.
Hiện nay, nghiên cứu về mất đất do xói mòn mang tính hợp tác cao, có
nhiều tổ chức quốc tế đứng ra liên kết giữa các quốc gia trong lĩnh vực khoa
học này; đồng thời các quốc gia cũng thành lập các trung tâm và các hiệp hội
nghiên cứu quản lý sử dụng đất.
Những nghiên c
ứu trong thời kì này hướng vào hai mục tiêu chính. Một
là, phát hiện những quy luật hoạt động của xói mòn ở từng địa phương, từng
quốc gia để dự báo xói mòn và xây dựng biện pháp chống xói mòn. Hai là,
xây dựng các biện pháp bảo vệ đất, đặc biệt là các công nghệ bảo vệ đất dốc,
trong đó có công trình của K.I.
.
Wiersum (1981); R.Lack (1990). Và kết quả
nghiên cứu cơ bản được thể hiện: Phát triển các phương trình toán học để dự
báo xói mòn; và những biện pháp bảo vệ đất tập trung vào việc sử dụng các
thảm thực vật, các mô hình nông lâm kết hợp, canh tác trên đất dốc, xây dựng
các công trình chống xói mòn.
Kết quả nghiên cứu của G.Fiebiger (1993) xác nhận rằng: nguy cơ xói
mòn đất dưới tầng cây gỗ có thể tăng lên do giọt mưa dưới tán r
ừng có kích
thước lớn hơn. Những loài cây có phiến lá to (như Tếch - Tectona grandis)
thường tạo ra các giọt nước ngưng đọng với kích thước lớn, nên khi rơi từ tán
lá trên cao xuống sẽ có sức công phá bề mặt đất lớn hơn với sức công phá của
giọt mưa tự nhiên trên đất trống. Loài Albizza falcataria với tầng tán cao 20m
so với mặt đất, đã tạo ra giọt mưa có năng lượng gây xói mòn b
ằng 102% so
với năng lượng của giọt mưa ngoài đất trống. Loài Anthocephalus chinensis
http://www.ebook.edu.vn
8
với phiến lá to và tầng tán cao 10m, lại tạo nên những giọt mưa rơi có năng
lượng gây xói mòn bằng 147% so với năng lượng của hạt mưa rơi tự nhiên
(G.Fiebiger, 1993). Vì vậy, một trong những tiêu chí chọn loài cây trồng rừng
phòng hộ đầu nguồn ở vùng nhiệt đới là chọn loài cây có tán lá dày, rậm
nhưng phiến lá phải nhỏ, càng nhỏ càng tốt. Những nghiên cứu khác cho thấy
rằng, cây bụi, thảm tươi và vậ
t rơi rụng có vai trò lớn trong việc hạn chế xói
mòn, sạt lở đất. Nếu chúng bị phá trụi hoặc bị lấy đi khỏi đất rừng thì tác
dụng hạn chế xói mòn đất của rừng sẽ giảm. FAO (1994a, 1994b) đã tổng kết
nhiều tài liệu nghiên cứu về xói mòn đất dưới các loại rừng và các kiểu sử
dụng đất khác nhau và đã chỉ ra rằng: quá trình tích lũy sinh khối là cơ
chế
sinh vật học chủ yếu để khống chế xói mòn đất.
Như đã biết, sạt lở đường giao thông là mức độ cao nhất của xói mòn.
Qua nhiều giai đoạn phát triển, công tác phòng chống sạt lở đường giao thông
vẫn chỉ dừng lại ở các biện pháp: làm tường trọng lực, bạt mái taluy, mà vẫn
chưa chú trọng việc sử dụng thảm thực vật vào công tác phòng chống sạ
t lở.
chính vì vậy, tuy đã tiêu tốn rất nhiều kinh phí cho việc bảo vệ hành lang
đường giao thông, nhưng sạt lở vẫn thường xuyên xảy ra với mức độ nghiêm
trọng.
1.2 Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu bảo vệ đất đầu tiên đựơc tiến hành từ những
năm 1960, do Viện Nông hoá thổ nhưỡng - trường Đại học Tổng hợp, trường
Đại học Nông nghiệp, trường Đại học Lâm nghiệ
p, Đại học Sư phạm Hà Nội
và một số trung tâm khác thực hiện.

Tuy nhiên, do nghiên cứu bảo vệ đất
thường đòi hỏi kinh phí lớn và phương tiện hiện đại, nên những công trình
nghiên cứu còn ít và chưa hệ thống, các phương tiện nghiên cứu còn dơn giản;
nên vẫn còn rất ít ỏi những thông tin về xói mòn ở Việt Nam, chưa đủ thông
tin cho việc phân tích quy luật để dự báo xói mòn, xây dựng biện pháp bảo vệ
đất ở Việt Nam. Song cũng đạt được một số thành quả nh
ư sau:
http://www.ebook.edu.vn
9
1.2.1.Thành quả nghiên cứu vai trò giữ nước của rừng
Nghiên cứu vai trò giữ nước của rừng ở nước ta được bắt đầu vào những
năm 1970 và đẩy mạnh vào đầu những năm 1990, tuy vậy đây vẫn còn đang
là một vấn đề khá mới mẻ và chưa được nghiên cứu nhiều. Nghiên cứu vai trò
giữ nước của rừng ở Việt Nam được chia thành 2 hướng chính.
1.2.1.1.Vai trò giữ nước c
ủa rừng trên lưu vực
Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đên vai trò điều tiết nước của
rừng, ảnh hưởng của các kiểu thảm thực vật rừng tới việc thay đổi chế độ
dòng chảy mặt tại các lưu vực nước và ảnh hưởng đến lượng nước của sông
ngòi như công trình của: Nguyễn Viết Phổ (1992); Vũ V
ăn Tuấn (1977, 1981,
1982). Những nghiên cứu này đã cho thấy vai trò điều tiết nước đặc biệt hữu
hiệu của thảm thực vật rừng, đặc biệt là việc cung cấp nước cho sông suối vào
mùa khô. Quá trình dòng chảy đã được phân tích và mô hình hóa một cách có
cơ sở khoa học trong luận án PTS của Vũ Văn Tuấn (1993); Vũ Văn Tuấn và
Phạm Thị Lan Hương (1998); Trần Thục và Huỳnh Thị Lan Hương (1999).
Trong năm 1993, vấn đề rừng với tác dụng dòng chảy đã được Phạm Ngọc
Dũng (1993) nghiên cứu và cho thấy: ở nước ta cây rừng có khả năng tiêu thụ
một lượng nước rất lớn. Đất rừng cũng là nhân tố ảnh hưởng rõ rệt đến dòng
chảy mặt. Sự khác nhau về tính chất, chủ yếu là tính chất vật lý của các loại
đất sẽ ảnh hưởng trự
c tiếp đến xói mòn đất và hình thành dòng chảy mặt.
Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1995) đã dựa vào mức độ thấm, thoát
nước và sự thoái hóa của các loại đất cho điểm và đánh giá vai trò của các
nhân tố đất ảnh hưởng tới xói mòn và dòng chảy.
Vai trò của rừng trong việc giữ nước là rất quan trọng. Nghiên cứu của Võ
Minh Châu (1993) - dẫn theo Vương Văn Quỳnh (1999): cho thấy sự suy
giảm diện tích rừng
đầu nguồn sông Ngàn Mọ từ 23.971 ha xuống còn 6.000
ha đã làm cho lượng nước hồ Kẻ Gỗ giảm đi đáng kể, giảm từ 340 triệu m
3

nước xuống còn 60 triệu m
3
, do đó không đảm bảo nước cho sản xuất nông
nghiệp trên diện tích 6.000 ha.
Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương (2002) đã đưa ra dẫn
liệu lưu lượng dòng chảy tại nơi có rừng thấp hơn từ 2.5-2.7 lần so với khu
http://www.ebook.edu.vn
10
vực canh tác nông nghiệp, rừng tự nhiên có tác dụng tốt hơn rừng trồng trong
việc giảm dòng chảy mặt, dòng chảy kiệt ở những nơi có rừng cao hơn không
có rừng.
Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Tiến sĩ Trần Trọng Huệ thuộc
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thì việc phá rừng là nguyên nhân
chính của hiện tượng sạt lở đất ở khu vực miề
n núi phía Bắc bao gồm các tỉnh
như Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang, và Lạng Sơn. Ở những tỉnh này,
đất đá sạt lở ngày càng nhiều, nhất là trong những vùng có độ che phủ thực
vật thấp hơn 20%.
1.2.1.2.Vai trò giữ nước của rừng trên sườn dốc
Công trình nghiên cứu điển hình về thủy văn rừng trong khoảng thời gian
từ năm 1970 - 1985 là công trình nghiên cứu của Bộ môn khí tượng thủy v
ăn
rừng ở Tứ Quận - Tuyên Quang và ở núi Tiên - Hữu Lũng - Lạng Sơn. Công
trình nghiên cứu đầu tiên ở Tứ Quận - Tuyên Quang tập chung chủ yếu vào
việc tim hiểu lượng nước chảy bề mặt và lượng đất xói mòn dưới tán rừng bồ
đề trồng thuần loài đều tuổi trong khoảng thời gian 3 năm (1974-1976) (Bùi
Ngạnh, Vũ Văn Mễ, 1995). Tiếp đó, các công trình tập chung nghiên cứu ảnh
hưởng c
ủa độ tàn che tới khả năng điều tiết nước của rừng, khả năng ngăn cản
nước mưa của tán rừng (Bùi Ngạnh và Nguyễn Danh Mô, 1977); Bùi Ngạnh
và Nguyễn Ngọc Đích, 1985. Những nghiên cứu này đã cho thấy sự thay đổi
dòng chảy mặt ở một số dạng rừng khác nhau, trên cơ sở đó các tác giả đã đề
xuất những mô hình bố trí các đai rừ
ng giữ nước trên sườn dốc. Năm 1981,
(Lê Đăng Giảng và Nguyễn Thị Hoài Thu, 1981) đã tổng kết kết quả nghiên
cứu về khả năng giữ nước, điều tiết dòng chảy của rừng thứ sinh hỗn giao lá
rộng tại núi Tiên - Hữu Lũng - Lạng Sơn. Những tác giả này đã đề nghị rằng
việc xây dựng và thiết kế rừng phòng hộ ở các triền sông ph
ải được phát huy
được khả năng giữ nước cao nhất của nó trong những thời điểm lượng mưa
mùa tập chung cao.
Trong những năm 1980, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào xói
mòn đất và khả năng giữ nước của một số thảm cây trồng nông nghiệp và cây
công nghiệp đặc biệt là ở các tỉnh vùng Tây nguyên. Trong thời gian này
http://www.ebook.edu.vn
11
nhiều khu nghiên cứu quan trắc định vị đã được xây dựng kiên cố bằng gạch
và xi măng, gỗ, kim loại Hàng loạt các công trình mang nhiều sắc thái và đi
vào định lượng như công trình nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ, Quách
Cao Yêm, Hoàng Xuân Cơ (1984). Những công trình nghiên cứu này đã làm
rõ ảnh hưởng của nhân tố địa hình tới xói mòn, vai trò chống xói mòn của một
số thảm thực vật nông nghiệp, đã chú ý tới độ che phủ gắ
n liền với các giai
đọan phát triển của cây trồng, định hướng cho việc xây dựng các giải pháp
phòng chống xói mòn trên sườn dốc. Tuy nhiên, khả năng giữ nước của các
thảm thực vật còn ít được chú ý (Phạm Văn Điển, 2004).
Nghiên cứu về xói mòn đất phải kể đến nhiều tác giả khác như Lê Văn
Lanh (1999), Bùi Quang Toản (1991), Nguyễn Trọng Hà (1996)
Khi nước ta thực hiện chương trình 327 với đối tượng chủ
yếu là rừng phòng
hộ, nghiên cứu thủy văn rừng cũng được đẩy mạnh một bước. Nghiên cứu của
Võ Đại Hải (1996), Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải (1997): cho thấy vai
trò điều tiết nước, chống xói mòn đất của rừng rất lớn; lượng nước mưa bị tán
rừng ngăn cản dao động từ 5.7% đến 11.6% tùy thuộc vào từng loại rừng;
lượng nướ
c tạo thành dòng chảy ngầm và các dạng khác từ 88.2% đến 92.5%
tổng lượng nước mưa; lượng nước mưa tạo thành dòng chảy mặt ở những nơi
có rừng rất thấp, qua đó hạn chế khả năng hình thành lũ và lũ quét. Đây là
những công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về thủy văn rừng ở nước ta,
từ khả năng giữ nước của tán rừng, dòng ch
ảy mặt, dòng chảy men thân, tốc
độ thấm nước, cho tới khả năng giữ nước của tầng thảm tươi cây bụi, lớp
thảm mục Kết quả nghiên cứu này bước đầu đã xây dựng được một số cơ sở
khoa học cho việc xây dựng rừng phòng hộ giữ nước, giữ đất chống xói mòn,
sạt lở đất ở nước ta.
Đi sâu vào nghiên cứu phòng ch
ống sạt lở đường giao thông, ngoài
những nghiên cứu của trường Đại học Xây dựng, Đại học Giao thông vận tải,
Đại học Mỏ địa chất với các nội dung như: nền móng đường giao thông,
tường trọng lực, gia cố taluy… thì hầu như chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể
về vấn đề lựa chọn loài cây trồng rừng phòng hộ chống sạt lở ở Việt Nam nói
chung và khu vực Quốc lộ 6 chạy qua vùng Tây Bắc nói riêng.

http://www.ebook.edu.vn
12
Chương 2
MỤC TIÊU - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và giới hạn nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: xã Chiềng Hắc huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La.
Giới hạn nghiên cứu: hai bên ta luy đường Quốc lộ 6 đoạn km 96 - km
100 (từ thành phố Sơn La đi Hà Nội) và một số điểm lân cận: Xã Chiềng Sơn -
Mộc Châu.
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
2.2.1 Mục tiêu chung
Góp ph
ần lựa chọn được một số loài cây trồng có tác dụng phòng chống
sạt lở, đảm bảo giao thông thông suốt trong mùa mưa bão trên các cung đoạn
giao thông miền núi thuộc Quốc lộ 6 lên Tây Bắc.
2.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được tình hình sạt lở ở một số cung đoạn giao thông và mức độ
thiệt hại,
- Đưa ra được các tiêu chí để lựa chọn loài cây trồng rừng phòng chống sạ
t
lở và đề xuất giải pháp, kĩ thuật trồng cây.
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Tình hình sạt lở ở một số cung đoạn giao thông trên Quốc lộ 6 thuộc
tỉnh Sơn La
- Đặc điểm địa hình, địa thế,
- Khí hậu, thuỷ văn, dòng chảy mặt,
- Địa chất, thổ nhưỡng,
- Dân sinh, kinh tế và những hoạt động sản xuất của người dân,
- Mức độ
, quy mô sạt lở và thiệt hại.
2.3.2 Đặc điểm lớp thảm thực vật khu vực sạt lở
- Thành phần loài cây,
- Cấu trúc tầng thứ và tổ thành,
- Cấu trúc tán lá, thân cành và bộ rễ,
- Khả năng tái sinh và nguồn gốc.
http://www.ebook.edu.vn
13
2.3.3 Lựa chọn loài cây trồng chống sạt lở
- Tiêu chí chọn loài cây trồng,
- Chọn loài cây trồng.
2.3.4 Đề xuất giải pháp và kĩ thuật lâm sinh trồng cây phòng chống sạt lở
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận
Sạt lở là hình thức của xói mòn, là hiện tượng phá huỷ và trôi trượt một
khối lượng đất đá từ trên cao xuống dưới theo chiều trọng lực. Ở đó cường độ
xói mòn
được tính bằng lượng đất hoặc bề dày lớp đất mặt bị cuốn trôi theo
nước/gió trên một đơn vị thời gian (tấn/ha.năm, mm/ha.năm), do đó các nhân
tố ảnh hưởng đến xói mòn cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến sạt lở.
Các nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn như: tính chất đất (lý tính và hoá
tính), nó ảnh hưởng đến khả năng thấm và giữ nước của đấ
t, khả năng giảm
dòng chảy mặt, tăng dòng chảy ngầm, gắn chặt các hạt đất; đặc điểm địa hình,
khí hậu thuỷ văn; đặc biệt là cấu trúc lớp phủ thảm thực vật vì đây là nhân tố
ảnh hưởng đến động năng của hạt mưa, khả năng phát tán hạt mưa, giảm dòng
chảy mặt…Vì vậy, tôi tiến hành thu thập các chỉ tiêu về
đặc điểm cấu trúc
rừng, tính chất đất, đặc điểm địa hình. Trong đó, về tính chất đất, tôi chỉ tiến
hành điều tra lý tính do hạn chế về thời gian và phương tiện.
- Bản chất vật lý của xói mòn, trượt đất đá do nước, quy luật lực học
của xói mòn đất.
Xói mòn đất là toàn bộ quá trình bào mòn, vận chuyển và bồi tụ lớp mặt
đất dướ
i tác động của nước, gió và trọng lực. Xói mòn còn gọi là bào mòn
hoặc xói lở. Và trượt lở đất đá là một hình thức xói mòn, làm sụt lở đất, phá
hoại đường xá, cầu cống, nhà cửa, vùi lấp sông hồ, phá đập…,

trượt đất là
hiện tượng trôi trượt cả hệ thống sườn dốc xuống dưới thấp.
Ở bất cứ điểm nào trên mặt đất, khi bị một lực tác động của nước, đất sẽ
sinh ra một phản lực, khi lực tác động càng lớn hơn sức đề kháng của đất thì
xói mòn xảy ra càng mạnh. Cho nên bản chất vật lý của xói mòn đất là quá
http://www.ebook.edu.vn
14
trình động lực của nước bao gồm tác động công phá của giọt nước mưa và tác
động cuốn trôi của dòng chảy, là quá trình biến thế năng thành động năng.
Nước chảy là một loại vận động của thể lỏng, cho nên nghiên cứu xói mòn đất
phải nghiên cứu theo phương trình động lực học.
+ Tác động công phá của giọt nước mưa: Khi mưa to, các giọt nước
mưa đập mạnh xuố
ng mặt đất, có thể sinh ra một động năng rất lớn làm tan
giã các hạt đất và bắn tung lên rồi toé ra xung quanh, nơi đất dốc lượng hạt
đất bắn về phía dưới dốc nhiều và xa hơn so với phía trên dốc. Do sự khác
nhau đó làm cho đất sau nhiều lần tan vỡ, bắn lên và di động xuống phía chân
dốc, gây ra xói mòn đất phía trên dốc và bồi tụ đất phía dưới chân dốc. Lượng
các hạt đất bị tan ra, bắn lên và di chuy
ển xuống phía chân dốc: E (gr/h) nhiều
hay ít phụ thuộc vào đường kính của giọt mưa: v (m/s); cường độ mưa: I
(m
3
/h) và hệ số của đất (đặc trưng cho sức đề kháng của từng loại đất đối với
sự công phá của hạt mưa và sự cuốn trôi của dòng chảy): K. Bằng thí nghiệm,
Ailixin đã đưa ra công thức tính như sau: E=K.v
4,33
.d
1,07
.I
0,65

+ Tác động cuốn trôi của dòng chảy: Khi mưa lớn, lượng nước mưa rơi
xuống mặt đất sẽ bị phân phối thành 3 phần như sau: một phần bốc hơi vào
không trung, một phần thấm sâu xuống đất và một phần chảy tràn trên mặt đất
hình thành dòng chảy từ cao xuống thấp (nếu là nơi đất dốc). Thường lượng
nước bốc hơn không đáng kể nên n
ếu lượng nước thấm vào đất càng giảm thì
lượng chảy trên mặt đất càng lớn. Nước chảy trên mặt đất chia làm 2 loại:
lượng nước chảy tràn trên mặt đất và lượng nước chảy tập trung thành dòng.
Điểm khác nhau cơ bản giữa sự bào mòn của hạt mưa và sự cuốn trôi của
dòng chảy là ở chỗ:
+ Hậu quả của sự bào mòn dẫn đến xói mòn bề mặt, sự
cuốn trôi của dòng
chảy sẽ dẫn đến xói mòn khe là loại xói mòn nghiêm trọng mang đi lượng đất
rất lớn.
+ Phân bố năng lượng của sự bào mòn, lực xung kích của giọt mưa phân bố
đều trên toàn bộ mặt đất. Sự cuốn trôi của dòng chảy, năng lượng dòng chảy

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét