ước xã hội” của Rousseau và “Bàn về Tinh thần pháp luật” của Montesquieu
cũng đã được dịch ra tiếng Việt. Các tác phẩm khác của các ông tuy nhiên
chưa được dịch đầy đủ ra tiếng Việt. Điều này có nhiều lý do, mà một trong
số chúng là sự non trẻ của các ngành khoa học chính trị ở nước ta. Các
nghiên cứu về hai ông tập trung vào các lý luận quan trọng nhất của các ông
như lý luận về phân quyền (thuyết tam quyền phân lập ), lý luận về khế ước
xã hội, chủ quyền của nhân dân v.v (Như Hoàng Thanh Đạm, Đào Trí Úc,
Vũ Hoàng Công, Nguyễn Đăng Thành, Đinh Ngọc Vượng v.v.) Mặc dù khó
có thể phân biệt một cách rõ rành về các cách tiếp cận, có thể nói các nghiên
cứu này xem xét chủ yếu từ góc độ khoa học chính trị- pháp lý, và triết học xã
hội. Trong đó đã trình bày tư tưởng của các ông về các hình thức tổ chức nhà
nước. Nhiều tác phẩm chỉ đề cập đến các kết luận lý thuyết của các ông một
cách gián tiếp. Việc nghiên cứu sâu hơn các xuất phát điểm cũng như lập
luận căn bản của các ông về bản chất chính trị trong mỗi cá nhân, cũng như
thẻ chế lý tưởng phù hợp với bản chất đó vẫn còn ít được đề cập. Nói cách
khác, chúng ta chưa khảo sát kỹ độ tin cậy của các lý luận của các ông. Và có
thể quan trọng hơn, chúng ta muôn hiểu hơn về vấn đề “trong điều kiện nào
thì các kết luận đó là không đáng tin cậy” ? Tương tự, các lý luận này có thẻ
được biến đổi và ứng dụng như thế nào trong các điều kiện thực tế, mà vẫn
giữ nguyên được tinh thần khoa học (tức sự tin cậy) của nó ?
2) Các tác giả cận hiện đại: đây là các tác giả ít được biết đến ở nước ta
(Mills, Schumpeter, và Dahl), hoặc chỉ được biết đến như trong lĩnh vực
nghiên cứu khác (như Webber trong xã hội học, và phần nào là Mills trong
kinh tế học vi mô, Schumpeter trong kinh tế học vĩ mô), hay thậm chí chỉ như
một nhân vật nổi tiếng, tức một cách khá mơ hồ (như Madison – một trong
những người khai quốc của nước Mỹ hiện đại). Phần tư tưởng chính trị của
họ hầu như không được đề cập.
Lý do chính là vì các lý thuyết và nghiên cứu của các ông khó có chỗ
đứng trong hệ thống học thuật chuyên về chủ nghĩa Mác-Lê nin của chúng ta,
5
cũng như do nhiều quan niệm khác về sự cần thiết phải nghiên cứu chúng.
Hiển nhiên, các tác phẩm của các ông, dù được coi thuộc hàng kinh điển (bên
cạnh các tác phẩm của Mác, Ăng-ghen, Lênin ) trên thé giới, cũng không
được dịch hay giới thiệu. Trong khi đó, sự ảnh hưởng của họ, các lý luận của
họ có những ảnh hưởng khá rộng rãi trong các nước mà đề tài chọn để nghiên
cứu. Ngay giáo trình về lịch sử tư tưởng chính trị của Viện Chính trị học
cũng chưa có điều kiện để đề cập đến các tư tưởng này. Việc nghiên cứu các
tư tưởng này có vai trò quan trọng trong việc phân tích các mô hình trên, vì
bản thân các lý luận này cũng chính được đúc kết và kiểm chứng tại các mô
hình về HTCT mà chúng có ảnh hưởng.
Trong khuôn khổ của đề tài, việc chọn vấn đề căn cốt như trên đã đề cập
là cần thiết vì cả lý do về mục tieu cũng như tính khả thi trong điều kiện hiện
nay của Việt nam.
1.3.Cấu trúc báo cáo
Báo cáo sẽ được trình bày làm 3 chương chính: Chương 1 trình bày các
tư tưởng của Rousseau và Montesquieu (có thể coi là thuộc thế kỷ 17 và 18)
theo chủ đề đã nêu, trong đó điểm nhấn vào sự tương tác giữa thể chế và con
người chính trị. Tương tự như vậy, chương 2 trình bày các tư tưởng của
Madison và Mills, các nhà tư tưởng sống trong thé kỷ 18 và 19. Chương 3 sẽ
tập trung vào các nhà tư tưởng thuộc thế kỷ 20 là Webber, Schumpeter và
Dahl.
Việc trình bày theo các nhà tư tưởng như vậy có các nhược điểm của nó
như đã biết: khó theo dõi và so sánh được các lập luận chính, dễ sa vào các
chi tiết không liên quan đến chủ đề nghiên cứu. Tuy nhiên do tính chất của đề
tài này mới chỉ khuôn vào một vài nhà tư tưởng như vậy nên chũng tôi vẫn
dùng cách này, với hy vọng trong tương lai, khi đã có khá đầy đủ các nghiên
cứu về nhiều nhà tư tưởng khác nữa, chúng ta có thể có được cái nhìn bao
quát và tương đối tòan diện hơn. Phần kết luận sẽ cố gằng đưa ra các luận
6
điểm khái quát chung nhất cho các tư tưởng được nghiên cứu.
7
2. CHƯƠNG 1 – CÁC QUAN ĐIỂM CỦA MÔNG-TÉT-
XKIƠ VÀ RÚT-XÔ
2.1.MÔNG-TÉT-XKIƠ
Nghiên cứu về các tư tưởng của Montesquieu ở nước ta tập trung khá
nhiều vào phần thể chế nhà nước, đặc biệt là thuyết tam quyền phân lập. Tuy
nhiên, 2 đóng góp quan trọng của ông xét vê mặt dài hạn lại có thể là:
1 - Quan niệm của ông về khoa học xã hội: trong đó ông quan tâm đến
vấn đề căn bản, vẫn còn cấp thiết tận ngày nay: đó là “tính khoa học”, hay
làm thé nào để đạt được độ tin cậy khách quan trong các kết luận nghiên cứu
về xã hội. Để làm điều này ông đặt câu hỏi cái gì làm nên nền tảng của tính
khoa học đó. Vì chỉ có đạt đièu đó, các lý thuyết khác của ông mới có tính
khả thi và độ thuyết phục.
2 - Các điều kiện để đảm bảo cho tự do chính trị : đây chính là việc ứng
dụng cách khảo sát mà ông cho là khoa học để đạt được mục tiêu trong thực
tế. Để làm điều này, ông dã khảo sát các loại hình chính phủ, đặt ra các tiêu
chí khoa học để phân loại nó. Từ đó, tìm ra các tiền đề các điều kiện cần thiết
cho đảm bảo tự do chính trị, mà tam quyền phân lập chỉ là một trong số các
điều kiện cần, dù là rất quan trọng, nhưng chưa bao giờ ông cho là đủ.
Đề tài này tuy tập trung vào vấn đề thứ hai, và nhưng khác với truyền
thống, là nhìn nhận nó như là ứng dụng cụ thể của vấn đề thứ nhất. Nói cách
khác, tiêu điểm nghiên cứu là làm rõ tính khoa học của các điều kiện tự do
chính trị như đã được Montesquieu trình bày hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp qua
các hàm ý ẩn dưới các lập luận và kết luận của mình.
Cần phải thấy rằng, thuyết tam quyền phân lập, cũng như các lý luận của
ông về bản chất và nguyên tắc của các loại hình chính phủ, nếu nghiên cứu
một cách tách rời khỏi các quan điểm xuất phát của ông về bản chất con
người sẽ rất dễ sa vào các chi tiết kỹ thuật và có thể bỏ qua các lập luận nền
8
tảng nhất trong nghiên cứu của ông. Nói cách khác, nếu chỉ xem xét các kết
luận của ông về tam quyền phân lập thì mới chỉ thấy được tính tư biện, chưa
thấy được tính khoa học như ông mong muốn. Và chính sự tư biện đó sẽ dễ
dàng bị đánh gục bởi sự tư biện khác, hay ít nhất thì cũng chỉ có ngang bằng
giá trị với các kết luận đối lại (Điều này dễ dàng kiểm chứng: bằng ví dụ về
sự phản biện đơn giản nhất: “không phân quyền thì có thể càng đảm bảo tự do
hơn, càng hiệu quả hơn vì không mất thời gian tranh luận, bởi chúng ta luôn
nhân ái với nhau, và không dễ gì để ai lạm dụng quyền lực v.v.”. Những
cách thảo luận và tranh luận như thế này vẫn còn gặp không ít ở nước ta).
Quan niệm về con người chính trị:
Con người chính trị trong các tác phẩm của Montesquieu có thể được
xem xét theo mấy góc độ chính như sau:
1. Các cá nhân với hệ giá trị (đạo đức) của mình như vốn có, tự nhiên
Đây là các quan niệm của ông về các giá trị lý tưởng chung cho con
người. Vì là lý tưởng nên luôn có cách biệt với thực tế. Sự cách biệt đó tạo
nên các động lực hoạt động trong từng cá nhân cũng như qui định các hành vi
chính trị của họ. Thông qua sự tương tác của vô số các con người, xã hội thay
đổi, sẽ bộc lộ các khuynh hướng phát triển. Việc xem xét các giá trị đạo đức
như vậy cũng là tiền đề để nhìn nhận một cách khách quan các khuynh hướng
đó, từ đó tạo ra pháp luật để thúc đẩy hay ngăn cản chúng tùy thuộc vào sự có
lợi hay có hại của chúng.
Trong vấn đề này ông tỏ ra có các mâu thuẫn trong quan điểm của mình:
Một mặt, ông cho rằng đạo đức phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên và xã
hội. Trong đó, lần lại lịch sử phát triển của các biến đổi xã hội, thì suy đến
cùng là phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên (vì là cho trước, bất biến) như khí
hậu, địa hình, và phần nào đó là các phương tiện sinh sống (nhưng xét cho
cùng cũng có thể qui về các yếu tố địa lý, địa chất.) Nói cách khác, đạo đức
có tính tương đối với nghĩa nếu các điều kiện thay đổi, các giá trị đạo đức
9
cũng sẽ có các thay đổi.
Mặt khác, ông cũng cho rằng có những niềm tin, tiêu chuẩn đạo đức
khách quan, không phụ thuộc vào bất kỳ điều kiện cụ thể nào. Tức đạo đức
có tính tuyệt đối – phàm đã là người thì đều có các nhìn nhận giá trị đạo đức
như nhau. Và ông cho rằng lòng biết ơn, đạo hiếu, sự trả đũa v.v. là các giá
trị như vậy. Theo đó, đạo đức sẽ phải có các qui luật riêng, tách rời khỏi thế
giới hiện thực bên ngoài. Trong đó, giá trị chung được công nhận là “tự do”.
Cũng cần phải nói ngay là ông chưa đưa ra được khái niệm chặt chẽ về “tự
do” là gì, mà mặc nhiên công nhận đây là giá trị chung, phổ quát, quan trọng
nhất mà mỗi người đều khao khát và hướng tới. Và đây cũng là giá trị chủ
đạo mà các nghiên cứu của ông hướng tới tìm cách bảo đảm và đạt được trong
thực tế.
Khác với các bậc tiền bối như Hobbes (coi tình trạng tự nhiên sẽ luôn là
tình trạng chiến tranh), ông coi bản tính tự nhiên của con người nói chung là
thân thiện, hoà bình, chứ không phải tranh chấp, tham lam, ham muốn chinh
phục. Tuy nhiên, dù thế nào thì con người đều có chung một điểm là sự tự do
và bình đẳng trong môi trường tự nhiên, trước khi hợp thành xã hội. Do vậy
ông cho rằng con người có những bản tính tự nhiên, và từ đó, tạo nên qui luật
tự nhiên, sau: 1- Hòa bình, nghĩa là không ai tranh giành của ai; 2- Tự kiếm
sống; 3- Yêu thương giữa nam và nữ; 4- Ước muốn sống thành xã hội.
Ngoài ra, ông còn chỉ ra hai đặc điểm quan trọng của con người là : i-
Sự hữu hạn của lý tính, và vì vậy luôn có khả năng sai lầm, và ii – Sự ảnh
hưởng của các loại tình cảm và dục vọng đối với các hành động của con
người. Điều cũng khiến lý tính đôi khi bị chìm khuất. Hai đặc điểm này tất
nhiên liên quan đến các khía cạnh khác, tuy nhiên chúng ta có thể nhóm
chúng ở đây với tư cách là các quan niệm chung nhất về con người chính trị
của ông, và là các tiên đề trong hệ thống lập luận sau này.
Có thể nói, cũng như nhiều nhà tư tưởng khác, ông không tách rõ ràng
các quan niệm có tính tiên đề như vậy về bản chất con người, mà thường ẩn
10
nó dưới các kết luận. Các tiên đề ẩn như vậy chỉ có thể được luận ra bởi
người đọc, và do vậy, sẽ có thể bị diễn giải khác nhau, thậm chí mâu thuẫn
với nhau.
2. Các cá nhân sống trong xã hội, quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau ở trong
các điều kiện lịch sử cụ thể.
Ông cũng xem xét các đặc tính của con người trong các điều kiện xã hội
khác nhau, ở các thời kỳ khác nhau. Với sự nghiên cứu các thời kỳ và các chế
độ chính trị đã có, ông đã đề cập đến ba đặc điểm quan trọng của các con
người cụ thể, mà sự nổi trội của chúng trong từng thời kỳ hay từng hòan cảnh
sẽ làm nên cái mà ông gọi là nguyên tắc hay “tinh thần” của pháp luật – tức
cái “linh hồn” làm cho các thể chế biến đổi, hướng tới sự phù hợp. Đây là
một ý tưởng khoa học sâu sắc, vẫn còn ít được đề cập trong các khảo cứu
chính trị học ở nước ta.
Ba tính chất hoặc 3 giá trị đó là:
1- Sự cao thượng (virtue) hay trọng đức hạnh: Tính không vị kỷ, tình
yêu đối với quê hương đất nước, sự vị tha, yêu công bằng, v.v. theo ông đều
có thể coi là đức hạnh.
2- Sự trọng Danh dự (honor) - đây là điều gắn với các điều kiện và vị trí
xã hội nhất định của các con người cụ thể. Dù rằng, xét cho cùng, lòng yêu
danh dự, sự trọng danh dự cũng xuất phát từ tính vị kỷ. Điều mà ông phát
hiện là sự vị kỷ đó chỉ có thể được thỏa mãn khi mỗi người phải bảo vệ cả
danh dự của các người khác cùng vị trí, cùng địa vị xã họi giống mình. Tức
sự vị kỷ nhưng trên cơ sở bảo vệ cả hệ thống.
3- Sự sợ hãi : Con người cũng có sự sợ hãi nhiều sự vật. Chính vì có
đặc tính sợ hãi này mà quyền lực có thể tổ chức một cách hiệu quả dựa trên
nó. Điều này thể hiện rõ nhất trong các chế độ bạo lực chuyên chế
(Despotism) – khác với chế độ quân chủ (Monarchy), là chế độ chuyên chế
nhưng dựa trên tính trọng danh dự, trong sự phân loại của ông.
Nói chung, tiêu điểm quan trọng của ông chính là sự tương tác giữa các
11
cá nhân trong xã hội. Vì ông coi đây là sự tương tác phức tạp, do vậy ông kết
luận về tổng thể là xã hội (và HTCT) chỉ có thể cải cách từng bước
(Piecemeal reform), và cũng chỉ nên có các cải cách vừa mức (moderate
reform). Đây là tư tưởng quan trọng, và không phải khi nào cũng được tán
thành như lịch sử chính trị cho thấy.
3. Những người cầm quyền
Xuất phát điểm của Montesquieu là con người cá nhân có tính vị kỷ. Do
tính vị kỷ này, người cầm quyền sẽ luôn có xu hướng “lạm dụng quyền lực”
để mưu lợi cá nhân, tổn hại đến lợi ích của các thành viên khác trong cộng
đồng, mà trước hết là tổn hại đến giá trị “tự do” và “bình đẳng” mà con người
vốn có trong tự nhiên như trên đã đề cập. Con người chính trị với tư cách là
người cầm quyền do vậy cần phải bị kiểm sóat. Do vậy, chủ đề về kiểm soát
quyền lực để đảm bảo tự do là chủ đề trung tâm, quan trọng trong các nghiên
cứu của ông.
Quan niệm về thế chế chính trị
Dù quan niệm của ông về con người (đặc biệt về đạo đức, hệ giá trị lý
tưởng còn có sự chưa nhất quán), Montesquieu cho rằng pháp luật, và thể chế
phải được tạo ra một cách phù hợp với các điều kiện của xã hội. Điều này
dường như khác với tư tưởng về luật tự nhiên của các bậc tiền bối mà ông
chịu ảnh hưởng như Hobbes và Locke, nhưng nếu xem xét kỹ thì lập luận chủ
yếu của ông chính là xuất phát từ tính vị kỷ của con người chính trị, và cho
rằng sự phù hợp với các điều kiện xã hội như vậy là cần thiết theo cách để
khiến tính vị kỷ đó phục vụ (chứ không phải tàn phá) xã hội. Nói cách khác,
thì đây cũng chính là sự tiếp nối của tư tưởng về luật tự nhiên mà các nhà
nghiên cứu trước ông đã phát triển.
Quan niệm hay điểm khởi phát của ông là “Mọi vật đều có [qui] luật của
nó” trong nghĩa rộng nhất của từ này, tức là “các quan hệ tất yếu từ trong bản
12
chất” (tr.39)
1
, các quan hệ mà thiếu chúng, các vật đó sẽ không còn là chính
nó. Hiển nhiên, con người cũng vậy, “cũng bị các quy luật bất biến cai trị,
giống như mọi vật thể khác”(tr.41). Nhưng do sự hữu hạn của trí tuệ và do
bản chất của con người, nên dù là các cá nhân có lý tính, họ vẫn phạm các sai
lầm và “tự mình hành động, họ không nhất quán tuân theo các luật nguyên
thủy, và ngay cả những luật lệ do họ đặt ra họ cũng chẳng luôn luôn tuân thủ”
(tr.40).
Sự sai lầm và không tuân thủ đó dẫn tới ba điều nguy hiểm là : sự quên
Chúa trời, sự quên cả bản thân, và sự quên đồng loại. Để khắc phục ba điều
nguy hiểm đó, ông cho rằng cần 3 loại luật tương ứng để ràng buộc con
người, hạn chế các sai lầm, là : các luật của tôn giáo, các luật của luân lý, và
các luật chính trị và dân sự. Như vậy, ngay từ cách xem xét nguồn gốc của
các thể chế do luật tạo nên, ông đã đặt ra cả mục tiêu mà các thể chế đó phải
tiến tới: đó là sát hợp nhất với các luật tự nhiên.
2
Đây là xuất phát diểm có
tính nền tảng mà từ đó ông đi đến kết luận về mục tiêu của quyền lực chính trị
(sự cai trị) đó là: phù hợp với tự nhiên. Sự phù hợp với tự nhiên đó được
bảo đảm tốt nhất là “làm cho địa vị từng cá nhân phù hợp một cách tốt nhất
với địa vị của tòan thể nhân dân”. Cụ thể hơn, khi diễn giải quan điểm của
mình ông cho rằng luật (chính trị và dân sự) phải tương ứng với hai điều kiện
quan trọng:
1- điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai, cách sống ; và
2 - “trình độ tự do mà hiến pháp có thể chấp nhận, hợp với tôn giáo
trong nhân dân, với số lượng nhân khẩu, với khuynh hướng và mức tài sản,
với cách buôn bán, phong tục và tập quán của nhân dân” (tr. 46). Tức nó phải
phù hợp với “tính chất và nguyên tắc của nền cai trị mà người ta mong
muốn”.
Quan điểm của Montesquieu phân biệt rõ hai lĩnh vực luật chính trị và
1
Các trích dẫn trong tiết này đều từ ‘Tinh thần Pháp luật” của Montesquieu do Hoàng Thanh Đạm
dịch, nxbgd 1996.
2
Như chúng ta cũng biết, qui luật tự nhiên là khái niệm có nội hàm còn tranh cãi, chưa thống nhất.
13
luật dân sự, với ý nghĩa là một bên quy định cac ràng buộc thể chế của các
quan hệ quyền lực, còn một bên là các ràng buộc thể chế về quan hệ cộng
đồng bình đẳng. Trọng tâm nghiên cứu chính của ông là các thể chế ràng
buộc quan hệ quyền lực – tức các thể chế chính trị, và, suy rộng ra, khía cạnh
chính trị của các thể chế dân sự.
Trong vấn đề thể chế chính trị đó, mục tiêu nghiên cứu cụ thể và trọng
yếu của ông là “tự do chính trị” tức “được làm những cái nên làm và không bị
ép buộc làm điều không nên làm”, là “quyền được làm tất cả những điều mà
luật cho phép” (tr. 99), mà cốt yếu là “Chính phủ phải làm thế nào để mỗi
công dân không phải sợ một công dân khác” (tr. 100). Tự do của một người
luôn bị ràng buộc trong mối quan hệ với tự do của các người khác.
Từ đó lập luận cơ bản của ông về các thể chế là: “Trong một nước tự do,
mọi người đều được xem như có tâm hồn tự do, thì họ phải được tự quản; như
vậy tập đòan dân chúng phải có quyền lập pháp” (tr. 103). Tức là ông đi đến
thể chế dân chủ từ khái niệm tự do chính trị của các cá nhân. Hiển nhiên,
ông cũng nhìn nhận được sự bất khả thi về mặt kỹ thuật của sự lập pháp tòan
dân vì “không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp”, hơn nữa “Số đông
nhân dân đủ tư cách làm cử tri nhưng chưa đủ trình độ ra ứng cử”(tr.50) và
“Chẳng mấy ai hiểu rõ được trình độ cụ thể của tất cả mọi người khác” nên
việc chọn đại biểu là thích hợp để tìm dược người ưu tú đáng tin cậy.
Kế thừa các nhà tư tưởng đi trước, Montesquieu chỉ ra rằng: "Trong mỗi
quốc gia có 3 thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều phù hợp
với công ước quốc tế và quyền thi hành những điều trong luật dân sự". Ông
cũng giải thích rằng đó là những quyền hành pháp và quyền tư pháp. Để đảm
bảo tự do chính trị, ông đã chứng minh rằng cần phải phân tách các quyền của
nhà nước và trao vào tay các cơ quan và cá nhân khác nhau, bởi vì "khi nào
quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay 1 người hay viện
nguyên lão thì không còn gì là tự do nữa" và "Cũng không có gì là tự do khi
quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và hành pháp. Quan tòa sẽ là
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét