Trong niên độ kế toán tiếp theo, nếu hàng tồn kho không bị giảm giá đã sử
dụng vào sản xuất kinh doanh đã bán, ngoài bút toán ghi phản ảnh giá trị hàng tồn kho
đã dùng hay đã bán, kế toán còn phải hoàn nhập số dự phòng giảm giá đã lập của các
loại hàng tồn kho này, ghi:
Nợ TK 159: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Có TK 632: Giá vốn hàng bán.
5/ Xử lý các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
Căn cứ vào biến động thực tế và giá hàng tồn kho doanh nghiệp chủ động xác
định mức trích lập, sử dụng và xử lý các khoản dự phòng theo đúng qui định.
Cuối năm, doanh nghiệp có vật tư, hàng hoá tồn kho bị giảm giá so với giá trị ghi
trên sổ kế toán, thì phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo qui định.
- Nếu số dự phòng giảm giá phải trích lập cho năm kế hoạch bằng số dư khoản
dự phòng năm trước, thì doanh nghiệp không phải trích lập khoản dự phòng giảm giá
vật tư, hàng hoá tồn kho vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Nếu số dự phòng giảm giá trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng giảm giá vật
tư hàng hoá tồn kho để trích lập năm trước thì doanh nghiệp tính thêm vào chi phí quản
lý doanh nghiệp phần chênh lệch giữa số phải trích lập cho năm kế hoạch vưới số dư
khoản dự phòng đã trích lập năm trước.
- Ngược lại, nếu số dự phòng phải tính cho năm kế hoạch thấp hơn số số dư
khoản dự phòng giảm giá vật tư, hàng hoá đã trích lập năm trước thì doanh nghiệp phải
hoàn nhập khác phần chênh lệch giữa số dư khoản dự phòng đã trích lập năm trước với
số dự phòng phải trích lập cho năm kế hoạch.
IV/ Hạch toán dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư:
1/ Mục đích và sự cần thiết lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán:
Mục đích:
Theo nguyên tắc “Thận trọng” đòi hỏi kế toán phải lập dự phòng giảm giá đầu tư
chứng khoán ngắn hạn, chứng khoán dài hạn khi cần thiết nhằm ghi nhận trước vào chi
phí của niên độ này những khoản thiệt hại có thể phát sinh do những nguyên nhân khách
quan trong niên độ kế tiếp, từ đó xác định giá trị thực tế của các chứng khoán đang đầu
tư khi lập Bảng cân đối kế toán
Sự cần thiết lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán
Trong nền kinh tế thị trường, các loại chứng khoán mà doanh nghiệp đầu tư kể
cả chứng khoán ngắn hạn và chứng khoán dài hạn đều có thể bị thiệt hại do giảm giá.
Theo nguyên tắc “Thận trọng” đòi hỏi kế toán phải lập dự phòng giảm giá cho các loại
chứng khoán đàu tư khi cần thiết nhằm ghi nhận trước khoản tổn thất có thể xảy ra, giúp
doanh nghiệp có nguồn tài chính để bù đắp khoản tổn thất khi phát sinh.
2/ Đối tượng và điều kiện lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán:
Là toán bộ chứng khoán được doanh nghiệp đầu tư theo đúng qui định của pháp
luật, được tự do mua bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo cáo tài chính
có giá thị trường giảm so với giá đang hạch toán trên kể kế toán (giá gốc ghi sổ) được
pháp trích lập dự phòng.
Những chứng khoán không được phép mua bán trên thị trường thì không được lập dự
phòng giảm giá.
3/ Phương pháp lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán:
Doanh nghiệp phải lập dự phòng cho từng loại chứng khoán đầu tư, có biến
động, giảm giá tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm của năm báo cáo theo công thức
sau:
Mức lập dự phòng Số lượng chứng Giá chứng Giá chứng
giảm giá đầu tư = khoán bị giảm giá x khoán hạch - khoán thực tế
chứng khoán cho tại thời điểm lập toán trên số trên thị trường
năm kế hoạch BCTC năm kế toán.
Doanh nghiệp phải lập dự phòng riêng cho từng loại chứng khoán bị giảm giá và
được tổng hợp vào bảng kê chi tiết dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư, làm căn cứ
để hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
4/ Phương pháp hạch toán dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư:
- Tài khoản sử dụng:
Để theo dõi tình hình trích lập và hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng
khoán, kế toán sử dụng tài khoản TK 229 “ Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn”, TK 129
“ Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn”.
Kết cấu tài khoản:
- Bên Nợ: Số dự phòng bù đắp thiệt hại thực tế do giảm giá chứng khoán.
Hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán.
- Bên Có: Số trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.
- Số dư Có: Số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán hiện còn cuối kỳ.
Cuối năm tài chính, doanh nghiệp căn cứ vào tình hình giảm giá đầu tư ngăn han,
đầu tư dài hạn của các loại chứng khoán, các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn hiện có
tính đến 31/12 tính toán phải lập dự phòng giảm giá cho các khoản đầu tư ngắn hạn, dài
hạn này. So sánh với số đã lập dự phngf giảm giá năm trước (nếu có) xác định số chênh
lệch phải lập tăng thêm hoặc giảm đi (nếu có).
Trường hợp số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn, đầu tư chứng
khoán dài hạn phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn
hạn, dài hạn, thì số chênh lệch lớn hơn, ghi:
Nợ TK 635 : Chi phí tài chính.
Có TK 129 : Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn.
Có TK 229 : Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.
Trường hợp số dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn, đầu tư dài
hạn phải lập năm nay nhỏ hơn số dự phòng giảm giá chứng khoán ngắn hạn, dài hạn đã
lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, thì số chênh lệch phải được hoàn nhập, ghi:
Nợ TK 129: Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn.
Nợ TK 229: Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán dài hạn.
Có TK 635: Chi phí tài chính.
Trong niên độ kế toán tiếp theo, khi các chứng khoán đầu tư ngắn hạn, thu hồi
hay đã chuyển nhượng, ngoài bút toán phản ánh giá chuyển nhượng hay thu hồi của
những chứng khoán đã lập dự phòng giảm giá, kế toán còn phải hoàn nhập số dự phòng
giảm giá đã lập của các chứng khoán này.
Nợ TK 129, 229: Hoàn nhập số dự phòng giảm giá của những chứng
khoán đã chuyển nhượng hay thu hồi.
Có TK 635: Chi phí tài chính.
Cuối niên độ kế toán năm sau, kế toán hạch toán hoàn nhập toàn bộ số dự phòng
đã lập cuối niên độ kế toán trước vào thu nhập hoạt động tài chính
Cuối niên độ kế toán tiếp theo, so sánh số dự phòng năm cũ còn lại với số dự
phòng cần lập cho niên độ kế toán tới, nếu số dự phòng còn lại nhỏ hơn số dự phòng cần
lập cho niên độ mới. Kế toán tiến hành hoàn nhập số chênh lệch lớn hơn vào ghi chi phí
tài chính.
Ngược lại nếu số dự phòng còn lại nhỏ hơn số dự phòng cần lập cho niên độ
mới, kế toán tiến hành trích lập số chênh lệch nhỏ hơn vào chi phí hoạt động tài chính
giống như với niên độ kế toán trước.
5/ Xử lý khoản giảm giá chứng khoán đầu tư:
Nếu số dự phòng giảm giá phải trích lập cho năm kế hoạch bằng số dư khoản dự
phòng năm trước đã trích thì doanh nghiệp không phải trích lập khoản dự phòng giảm
giá chứng khoán đầu tư.
Nếu số dự phòng phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng giảm giá đầu tư
chứng khoán đã trích lập năm trước thì doanh nghiệp trích thêm vào chi phí hoạt động
tài chính.
Giá trị khoản dự phòng được hoàn nhập vào thu nhập hoạt động tài chíh.
V/ Hạch toán dự phòng phải thu khó đòi:
1/ Mục đích và sự cần thiết phải lập dự phòng phải thu khó đòi.
Mục đích:
Dự phòng phải thu khó đòi nhăm mục đích:
- Đề phòng nợ phải thu không thu hồi được khi khách hàng không có khả năng
trả nợ.
- Xác định giá trị thực của các khoản tiền tồn trong thanh toán khi lập báo cáo kế
toán.
Sự cần thiết phải lập dự phòng phải thu khó đòi.
Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh có những khoản phải thu mà người
nợ khó hoặc không có khả năng trả nợ hoặc vì lý do nào đó mà không xác định được
người nợ. Các khoản nợ của những khách hàng này gọi là nợ phải thu khó đòi. Để đề
phòng rủi ro, hạn chế những đột biến về kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán đảm bảo
phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong kỳ. Vào cuối mỗi niên độ kế toán phải tính số
dư nợ phải thu khó đòi do người nợ không còn khả năng thanh toán có thể xảy ra trong
năm kế hoạch để tính trước vào chi phí sản xuất kinh doanh.
2/ Đối tượng và điều kiện lập dự phòng phải thu khó đòi
- Phải có tên, địa chỉ nội dung từng khoản nợ, số tiền phải thu của từng đơn vị
hoặc người nợ, trong đó ghi rõ số nợ phải thu khó đòi.
- Để có căn cứ lập dự phòng nợ phải thu khó đòi doanh nghiệp phải có chứng từ
gốc hoặc xác nhận của đơn vị nợ hoặc người nợ về só tiền còn nợ chưa trả, bao gồm:
Hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết nợ, đối chiếu công
nợ.
- Căn cứ để được ghi nhận là khoản nợ phải thu khó đòi là:
+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán từ hai năm trở lên, nhưng đơn vị nợ đang
trong thời gian xem xét giải thể, phá sản hoặc người nợ có các dấu hiệu như bỏ trón,
đang bị cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử thì cũng được ghi nhận là khoản
nợ khó đòi.
3/ Phương pháp lập dự phòng phải thu khó đòi
Doanh nghiệp phải dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra trong năm kế hoạch của
các khoản nợ và tiến hành hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi. mức
lập dự phòng phải thu khó đòi không được vượt quá 20% tổng số dư nợ phải thu của
doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm và đảm bảo doanh nghiệp không
bị lỗ. Mức dự phòng cần lập có thể tính theo phương pháp:
Cách 1: Phương pháp ước tính trên doanh thu bán chịu (được xác định trên cơ sở kinh
nghiệm thực tế của nhiều năm hoạt động từ sự phân tích tính chất các khoản phải thu).
Mức lập dự phòng Tổng doanh số Tỷ lệ phải thu
phải thu khó đòi = bán chịu x khó đòi ước tính
- Cách 2: Doanh nghiệp dựa trên các tài liệu hạch toán chi tiết để phân loại các khoản
nợ phải thu theo thời hạn thu hồi nợ. Các khoản nợ quá hạn được xem là có khả năng
không đòi được nợ, nợ quá hạn càng lâu thì khả năng không đòi được nợ càng lớn. Kế
toán xác định mức lập dự phòng cần lập cho từng khoản phải thu khó đòi theo công
thức:
Số dự phòng Tỷ lệ không đòi Nợ phải thu
cần lập = được ước tính x quá hạn.
- Cách này khá sát với thực tế nợ không đòi được nhưng tốn nhiều công thức.
Sau khi lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, doanh nghiệp tổng
hợp toàn bộ khoản dự phòng các khoản nợ vào bảng kê chi tiết làm căn cứ để hạch toán
vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
4/ Phương pháp hạch toán dự phòng phải thu khó đòi:
- Tài khoản sử dụng:
Để phản ánh việc lập dự phòng về các khoản nợ phải thu khó đòi có khả năng
không đòi được vào cuối niên độ, kế toán sử dụng TK 139” Dự phòng phải thu khó đòi”
Kết cấu tài khoản:
- Bên Nợ: Hoàn nhập số dự phòng phải thu khó đòi.
- Bên Có: Trích lập số dự phòng phải thu khó đòi.
- Số dư Có: Số dự phòng phải thu khó đòi hiện còn cuối kỳ.
Cuối kỳ kế toán năm, doanh nghiệp căn cứ vào các khoản nợ phải thu được
xác định là không chắc chắn thu được, kế toán xác định số dự phòng phải thu khó đòi
cần trích lập. Nếu số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập năm nay lớn hơn số dư của
khoản dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập ở cuối niên đọ trước chưa sử dụng hết, thì
số chênh lệch lớn hơn được hạch toán vào chi phí, ghi:
Nợ TK 642 : Chi phí quản lý doanh nghiệp.
Có TK 139: Dự phòng phải thu khó đòi.
Nếu số dự phòng phải thu khó đòi cần trích lập năm nay nhỏ hơn số dư của
khoản dự phòng phải thu khó đòi đã trích lập ở cuối niên độ trước chưa sử dụng hết, thì
số chênh lệch hoàn nhập ghi giảm chi phí, ghi:
Nợ TK 139: Dự phòng phải thu khó đòi.
Có TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp (chi tiết hoàn nhập dự
phòng phải thu khó đòi).
Trong niên độ kế toán, các khoản nợ phải thu khó đòi xác định thực sự là
không đòi được được phép xoá nợ các khoản nợ, việc xó nợ các khoản phải thu khó đòi
theo chế độ tài chính hiện hành. Căn cứ vào quyết định xoá nợ về các khoản nợ, ghi:
Nợ TK 139: Dự phòng phải thu khó đòi (Nếu đã trích lập)
Nợ TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp.
Có TK 131: Phải thu khách hàng.
Có TK 138: Phải thu khác.
Đồng thời ghi vào bên Nợ TK 004” Nợ khó đòi khó xử lý”
Đối với những khoản nợ phải thu khó đòi xử lý xoá nợ, nếu sau đó lại thu hồi
được nợ, kế toán căn cứ vào giá trị thực tế của khoản nợ đã thu hồi được, ghi::
Nợ TK 111.112
Có TK 711: Thu nhập khác.
Đồng thời ghi vào bên Có TK 004” Nợ khó đòi đã xử lý”
5/ Xử lý các khoản dự phòng phải thu khó đòi
Giá trị tổn thất thực tế của các khoản nợ không thu hồi được (là phần còn lại sau
khi lấy số dư nợ phải thu ghi trên sổ kế toán trừ đi số nợ đã thu hồi được) cho phép xoá
nợ doanh nghiệp hạch toán vào chi phí quản lý của doanh nghiệp.
Sau khi đã có quyết định xoá nợ, doanh nghiệp cần phải theo dõi các khoản nợ
trong thời hạn tối thiểu là 5 năm và tiếp tục có các biện pháp để thu hồi nợ. Nừu thu hồi
được thì số tiền thu hồi sau khi trừ các chi phí có liên quan đến việc thu hồi nợ, doanh
nghiệp hạch toán vào thu nhập bất thường.
VI/ Một vài ý kiến về việc xác định và lập các khoản dự phòng trong doanh
nghiệp.
Nhìn chung, việc xác định và lập các khoản dự phòng ở nước ta là chặt chẽ, phù
hợp, đáp ứng được yêu cầu của kế toán trong công việc hạch toán kế toán tại doanh
nghiệp, nhưng bên cạnh đoa vẫn còn một số hạn chế. Dưới đây là một vài ý kiến nhằm
giúp hoàn thiện hơn công tác hạch toán kế toán nói chung và hạch toán các khoản dự
phòng nói riêng.
1/ Về việc xác định và lập các khoản dự phòng đầu tư tài chính:
Sử dung các tài khoản và phương pháp hạch toán:
Trong hệ thống kế toán Việt Nam, kế toán các khoản đầu tư tài chính được phản
ảnh trên hai nhóm tài khoản đầu tư ngắn hạn trên tài khoản loại nhóm 1, nhóm 2 bao
gồm TK 121, 129, 128, đầu tư tài chính dài hạn trên các tài khoản loại 2, nhóm 2 bao
gồm các tài khoản: 221, 222, 228, 229. Việc xây dựng các tài khoản theo hai nhóm này
rất thuận tiện cho việc ứng dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế. Tuy nhiên do chúng ta
chỉ sử dụng một cách đánh giá duy nhất để kế toán các khoản đầu tư là giá phí đầu tư
ban đầu, nên để thuận lợi cho việc ứng dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế, ngoài các
tài khoản hiện hành có thể xây dựng riêng một tài khoản để phân biệt giữa đầu tư góp
vốn liên doanh và đầu tư liên kết. Ngoài những tài khoản 129, 229 còn mở rộng phạm vi
hạch toán không những dự phòng cho các khoản đầu tư chứng khoán mà còn phải lập
dự phòng cho cả các khoản đầu tư khác như kinh doanh bất động sản.
2/ Về việc xác định và lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
Chế độ kế toán hiện hành chưa có qui định cụ thể hàng hoá tồn kho là hàng hoá
như thế nào, do vậy trong thực tế giá trị hàng tồn kho được báo cáo tại các doanh nghiệp
được hiểu là toàn bộ giá trị hàng hoá thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp lúc cuối kỳ.
Đối với doanh nghiệp thương mại có thể có hàng tồn kho ứ đọng trong kho do không
bán được do hư hỏng, lỗi thời Nếu phản ảnh cả bộ phận tồn kho này thì sẽ làm sai
lệch thông tin đối với các nhà quản lý.
Đối chiếu với IAS2 và kế toán hàng tồn kho của Mỹ ta thấy phạm vi của chỉ tiêu
hàng tồn kho cần bổ sung thêm như: Hàng tồn kho bị hư hỏng, mất giá, lỗi thời không
được tính vào giá của hàng tồn kho nếu chúng không thể bán được.
Nếu số hàng này có thể bán được với giá bị giảm thì chúng sẽ được tính vào giá
trị hàng tồn kho theo giá trị ròng có thể thực hiện được (giá bán ước tính - chi phí bổ
sung dể hoàn thiện hàng hoá)
Với qui định bổ sung này, chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo tài chính mới phản
ảnh thực chất toán bộ giá trị hàng hoá của doanh nghiệp để sản sàng cho bán ra. Phần
chênh lệch giữa giá gốc và giá trị ròng có thể thực hiện được sẽ được xử lý thông qua
lập dự phòng. Do đó, các qui định về lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho của nước ta
còn thiếu do trong khái niệm hàng tồn kho chúng ta không tính đến tổn thất do hàng hoá
bị hư hỏng, lỗi thời không tiêu thụ được hoặc phải bỏ thêm vào chi phí để hoàn thiện
hàng hoá và bán.
Xác định số dự phòng cần lập: Theo chuẩn mực 03 thì việc lập dư phòng hàng
tồn kho được lập khi:
- Giá bán của hàng tồn kho giảm xuống.
- Có tính đến tổn thất của bộ phận hàng tồn kho bị hư, lỗi thời, chi phí hoàn
thiện, chi phí bán hàng tăng lên.
- Đối với nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ dự trữ để sử dụng cho mục đích sản
xuất sản phẩm không được đánh giá thấp hơn giá gốc nếu sản phẩm do chúng góp phần
tạo nên sẽ được bán bằng hoặc cao hơn giá thành sản xuất của sản phẩm. Khi có sự
giảm giá nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ mà giá thành sản xuất sản phẩm cao
hơn giá trị thuần có thể thực hiện được, thì nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn
kho được đánh giá giảm xuóng bằng giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng.
Do đó, khi xác định số dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần lập phụ thuộc vào
giá trị thuần có thể thực hiện được ước tính của từng mặt hàng tồn kho dựa trên các
bằng chứng tin cậy thu thập được tại thời điểm ước tính (cuối kỳ kế toán năm). Khi giá
trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng
giảm giá tồn kho. Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá
gốc hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng.
Ta có:
Số dự phòng giảm giá Giá gốc của Giá trị thuần có thể thực
Hàng tồn kho cần lập = hàng i - hiện được của hàng i
i: là mặt hàng bị giảm giá (mặt hàng có giá trị thuần có thể thực hiện được nhỏ
hơn giá gốc).
n: số mặt hàng giảm giá.
Tuy nhiên, việc xác định số dự phòng giảm giá hàng tồn kho chỉ căn cứ vào giá
trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho thôi chưa đủ, mà còn phải căn cứ vò
giá thị trường của hàng tồn kho (giá thị trường là giá hiện tại mà doanh nghiệp phải trả
để mua hàng, không phải là giá bán, giá này còn được gọi là giá để thay thế hàng tồn
kho, trong những điều kiện mua bán bình thường), khi đó, giá trị thuần có thể thực hiện
được trừ mức lãi gộp tương ứng nhỏ hơn hoặc bằng giá trị hàng tồn kho được báo cáo
nhỏ hơn hoặc bằng giá trị thuần có thể thực hiện được.
Việc xác định số dự phòng giảm giá hàng tồn kho cần trích lập căn cứ vào giá trị
thuần có thể thực hiện được và giá thị trường của hàng tồn kho đảm bảo một cách nhìn
đúng đắn hơn về chi phí và thu nhập của doanh nghiệp tránh sự biến động lớn về chi phí
và thu nhập giữa các kỳ (do trích lập và hoàn nhập dự phòng).
Hạch toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Về bản chất nội dung nghiệp vụ trích lập dự phòng, hoàn nhập dự phòng là các
nghiệp vụ chỉ được phát sinh vào cuối năm khi đủ điều kiện được phép trích lập ( hàng
tồn kho được quyền sở hữu của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo có giá thị trường
thấp hơn giá trị thuần có thể thực hiện được) thì nghiệp vụ này về bản chất là những
nghiệp vụ bất thường. Khoản trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho tính vào chi phí
sản xuất kinh doanh trong kỳ thì rất có thể nguyên tăvs “ Thận trọng” trong kế toán
không được đáp ứng bởi vì nếu tháng cuối năm doanhnghiệp không có sản phẩm tiêu
thụ (hoặc tiêu thụ với khối lượng ít ) thì khi đó chi phí sản xuất kinh doanh không
được kết chuyển toàn bộ để xác định kết quả, có nghĩa là chi phí dự phòng không được
thực hiện vào cuối năm.
Như vậy, nếu đứng góc độ quản lý vĩ mô, cơ quan thuế khi đánh giá thành tích
của doanh nghiệp, xác định lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp thì không ảnh
hưởng (vì thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
như hoạt động bất thường đều bằng 32%. Tuy nhiên, nếu đứng trên góc độ phân tích
hoạt động kinh tế của từng hoạt động trong doanh nghiệp thì đây là một nhân tố ảnh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét