Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014
1 vài giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của C.ty ELECTROLUX trên thị trường Việt Nam
Cạnh tranh là môi trờng của kinh tế thị trờng nhng nó đồng thời là mục
tiêu của doanh nghiệp bởi vì xuất phát từ chính chức năng của cạnh tranh là:
làm giá cả trên thị trờng giảm xuống; buộc các doanh nghiệp tối u hoá đầu vào
trong sản xuất kinh doanh, không ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm và giảm
giá thành, giữ chữ tín; Nếu không có cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ không
có động lực để ngày càng hoàn thiện mình, còn ngời tiêu dùng sẽ không có đ-
ợc những sản phẩm - dịch vụ với chất lợng tốt nhất, nền kinh tế lúc đó sẽ trì trệ
và kém phát triển.
Tóm lại, sự tồn tại của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng là tất yếu
khách quan. Nó là cơ sở, là động lực để kinh tế thị trờng phát triển.
2.Cạnh tranh và các dạng của cạnh tranh trên thị trờng.
2.1.Cạnh tranh.
Trớc kia trong cơ chế cũ - cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp - các
hoạt động sản xuất kinh doanh đều đợc chỉ đạo từ trung ơng, từ trên xuống d-
ới. Quan hệ cung cầu cũng nh tất cả các quy luật của kinh tế thị trờng không
đợc tồn tại theo đúng nghĩa của nó. Quan hệ giữa các đơn vị kinh tế hầu nh
không có mâu thuẫn về lợi ích. Chính vì vậy mà cạnh tranh không có chỗ đứng
trong nền kinh tế.
Thời điểm đánh đấu công cuộc đổi mới kinh tế ở nớc ta bắt đầu từ đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ sáu của Đảng(1986). Từ đây cơ chế kinh tế có bớc
đổi mới cơ bản, nền kinh tế đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh
xuất hiện. Đặc biệt từ khi nớc ta tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới thì
cạnh tranh đợc nhìn nhận theo hớng tích cực hơn. Môi trờng cạnh tranh đợc
mở rộng trên cả thị trờng nội địa và thị trờng quốc tế. Cả Nhà nớc và doanh
nghiệp đều nhận thấy vai trò quan trọng của cạnh tranh. Toàn bộ nền kinh tế
cũng nh mỗi doanh nghiệp đều chấp nhận cạnh tranh nh là một nguyên tắc cơ
bản của thị trờng.
5
Theo Mác: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà
t bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Theo từ điển kinh doanh( xuất bản năm
1992) ở Anh: cạnh tranh trong cơ chế thị trờng đợc định nghĩa là sự ganh đua
kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một
loại về phía mình.
Nh vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa
các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trờng và khách hàng.
2.2.Các dạng của cạnh tranh trên thị trờng.
2.2.1.Căn cứ vào chủ thể kinh tế tham gia thị tr ờng.
- Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời mua:
Là cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt trên thị trờng. Ngời
bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, nhng ngời mua lại muốn
mua với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng đợc chấp nhận là giá thống nhất giữa
ngời mua và ngời bán sau quá trình mặc cả.
- Cạnh tranh giữa ngời mua với ngời mua:
Là cạnh tranh xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu. Khi đó, do hàng hoá trên thị
trờng khan hiếm, ngời mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua đợc thứ mà họ
cần. Do cung nhỏ hơn cầu nên ngời bán tiếp tục nâng giá, kết quả cuối cùng là
ngời bán thu đợc lợi nhuận cao còn ngời mua phải mua hàng hoá với giá cao
hơn giá trị của nó.
- Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời bán:
Với các doanh nghiệp đây là cuộc cạnh tranh gay go quyết liệt nhất, và
có ý nghĩa sống còn. Tất cả các doanh nghiệp đều muốn giành đợc lợi thế cạnh
tranh, chiếm lĩnh thị trờng trớc đối thủ. Kết quả để đánh giá doanh nghiệp nào
thắng trong cuộc cạnh tranh này là việc tăng doanh số tiêu thụ, tăng thị phần.
Cùng với nó là việc tăng lợi nhuận, mở rộng sản xuất
6
2.2.2.Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị tr ờng.
- Cạnh tranh hoàn hảo:
Là cạnh tranh trên thị trờng có nhiều ngời bán và nhiều ngời mua độc lập
với nhau, sản phẩm là đồng nhất. Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo có thể
bán tất cả sản phẩm của mình ở mức giá đang thịnh hành trên thị trờng. Nếu
doanh nghiệp đặt giá cao hơn thì doanh nghiệp sẽ không bán đợc vì ngời tiêu
dùng sẽ mua của ngời khác. Theo nghĩa đó doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
không có sức mạnh thị trờng, tức là không có khả năng kiểm soát thị trờng đối
với sản phẩm mình bán. Sản lợng của doanh nghiệp là nhỏ so với cung thị tr-
ờng, vì thế doanh nghiệp không có ảnh hởng đáng kể đến tổng sản lợng hoặc
giá trên thị trờng. Trong cạnh tranh hoàn hảo không có sự cạnh tranh phi giá.
Do vậy chính sách của doanh nghiệp là giảm chi phí sản xuất và tăng cờng
dịch vụ sau bán hàng. Các tin tức về thị trờng, giá cả thì ngời mua và ngời bán
đều nắm rõ, điều kiện tham gia cũng nh rút khỏi thị trờng là dễ dàng.
- Thị trờng cạnh tranh độc quyền:
Là cạnh tranh diễn ra trên thị trờng mà ở đó chỉ có một số ngời mua (độc
quyền mua) hoặc một số ngời bán một số sản phẩm thuần nhất. Họ có thể
kiểm soát gần nh toàn bộ hàng hoá bán ra trên thị trờng. Nhà độc quyền hoàn
toàn có thể định đoạt giá cả và số lợng bán ra. Tuy nhiên, điều đó không có
nghĩa là độc quyền có sự tự do hoàn toàn về giá mà tuỳ theo đặc điểm tiêu
dùng của sản phẩm và cơ chế quản lý của Nhà nớc mà nhà độc quyền có thể
định giá cao hay thấp để thu lợi nhuận tối đa.
Trong thị trờng độc quyền, các nhà độc quyền thờng sử dụng các hình
thức cạnh tranh phi giá nh quảng cáo, phân biệt sản phẩm để thu hút thêm
khách hàng. Trong thị trờng độc quyền thì việc gia nhập thị trờng là rất khó
khăn.
7
2.2.3.Xét theo phạm vi nền kinh tế.
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành:
Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hay tiêu thụ một
loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh
nghiệp thôn tính lẫn nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm
vi hoạt động của mình trên thị trờng. Những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải
thu hẹp phạm vi hoạt động kinh doanh thậm chí bị phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành:
Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác
nhau nhằm thu đợc lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu t
nếu bỏ ra đầu t vào các ngành khác. Sự cạnh tranh giữa các ngành này dẫn đến
doanh nghiệp đang kinh doanh từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp chuyển sang
kinh doanh ở ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn.
II / Khả năng cạnh tranh và vai trò của nâng cao khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp.
1.Khái niệm về khả năng cạnh tranh.
Trong kinh tế thị trờng cạnh tranh tồn tại là tất yếu . Khi một hàng hoá đ-
ợc đem rao bán trên thị trờng, nó sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng
hoá do các hãng khác sản xuất. Sự cạnh tranh diễn ra vô cùng khắc nghiệt bởi
vì nó quyết định tới khả năng tiêu thụ của sản phẩm. Lúc này một hàng hoá có
chất lợng tốt, giá cả hợp lý, phù hợp với nhu cầu của ngời tiêu dùng sẽ đợc ng-
ời tiêu dùng chấp nhận và ta có thể nói rằng hàng hoá đó có khả năng cạnh
tranh so với các sản phẩm khác. Tuy nhiên trên thực tế có nhiều quan niệm
khác nhau về khả năng cạnh tranh của hàng hoá.
Fatchams cho rằng: khả năng cạnh tranh của hàng hoá là khả năng đợc
sản xuất với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trờng.
8
Ranall lại cho rằng: khả năng cạnh tranh của hàng hoá là khả năng
giành đợc và duy trì thị phần trên thị trờng với lợi nhuận nhất định.
Một quan niệm khác lại cho rằng: khả năng cạnh tranh của hàng hoá là
khả năng đợc sản xuất theo đúng yêu cầu của thị trờng, đồng thời duy trì đợc
thu nhập thực tế của mình.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa: khả năng của các doanh nghiệp,
các ngành, quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều
kiện cạnh tranh quốc tế.
Có thể thấy rằng các quan niệm trên xuất phát từ các góc độ khác nhau
nhng đều nói về vấn đề chiếm lĩnh thị trờng và có lợi nhuận, do đó ta cũng có
thể hiểu khả năng cạnh tranh là năng lực nắm vững thị phần nhất định với
mức độ hiệu quả chấp nhận đợc.
2.Các công cụ sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trờng, một doanh nghiệp phải chịu rất nhiều sức ép
từ các đối thủ cạnh tranh. Để tồn tại và phát triển đợc trong điều kiện nh vậy,
mỗi doanh nghiệp đều có những công cụ riêng của mình để tạo ra lợi thế cạnh
tranh so với các đối thủ khác trên thị trờng. Các công cụ thờng đợc sử dụng là:
giá cả, sản phẩm, các dịch vụ đi kèm, các hoạt động xúc tiến
2.1.Sản phẩm.
Khi nói về sản phẩm - hàng hoá ngời ta thờng quy nó về một hình thức
tồn tại vật chất cụ thể và do đó nó chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố
có thể quan sát đợc. Đối với các chuyên gia marketing, họ hiểu sản phẩm -
hàng hoá ở một phạm vi rộng lớn hơn. Cụ thể là:
9
Sản phẩm của doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất các yếu tố có
liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thoả mãn đồng bộ các yêu cầu của khách
hàng bao gồm sản phẩm vật chất, bao bì, nhãn hiệu, các dịch vụ kèm theo
Gắn liền với sản phẩm là khái niệm về chất lợng. Theo ISO 8402, chất l-
ợng là tập hợp các tính chất, đặc trng của một sản phẩm có khả năng thoả mãn
nhu cầu của khách hàng. Nhu cầu của khách hàng là nhu cầu đã nêu hoặc nhu
cầu tiềm ẩn.
Sản phẩm và chất lợng của sản phẩm là một công cụ cạnh tranh quan
trọng của các doanh nghiệp trên thị trờng, bởi vì khách hàng luôn có xu hớng
so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác
nhằm lựa chọn cho mình cái tốt nhất. Ngời tiêu dùng thờng quan tâm trớc tiên
đến chất lợng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, nhiều lúc họ sẵn sàng chấp
nhận mức giá cao để có đợc sản phẩm tốt hơn.
Sản phẩm đợc doanh nghiệp sử dụng làm công cụ để tăng khả năng cạnh
tranh bằng cách làm ra các sản phẩm có chất lợng cao nhằm phục vụ một
cách tốt nhất nhu cầu của ngời tiêu dùng, hoặc là tạo ra sự khác biệt để thu hút
khách hàng. Mặt khác doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lợng càng cao thì
uy tín và hình ảnh của nó trên thị trờng cũng càng cao. Đồng thời chất lợng
sản phẩm tạo nên sự trung thành của khách hàng đối với các nhãn hiệu của
doanh nghiệp. Vì vậy nó tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn và lâu dài cho doanh
nghiệp trớc các đối thủ cạnh tranh.
2.2.Giá bán.
Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hoá. Đối với các
doanh nghiệp, giá cả trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế. Còn đối
với ngời mua, giá hàng hoá luôn đợc coi là chỉ số đầu tiên để họ đánh giá phần
đợc và chi phí phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hoá. Vì vậy, những
10
quyết định về giá luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà một doanh
nghiệp phải đối mặt khi soạn thảo các chiến lợc cạnh tranh của mình.
Cùng với chất lợng sản phẩm thì giá bán cũng là công cụ cạnh tranh chủ
yếu của các doanh nghiệp. Một sản phẩm có chất lợng đợc đánh giá là rất tốt
nhng cha chắc nó đã có thể đợc tiêu thụ mạnh hay bán chạy trên thị trờng nếu
nh giá bán của nó không phù hợp với thu nhập của ngời tiêu dùng. Sản phẩm
nào có giá bán thấp thì thờng tạo ra sức cạnh tranh rất lớn so với các sản phẩm
cùng loại khác trên thị trờng ngay cả khi chất lợng của nó không phải là tốt
nhất.
Hiện nay trên thị trờng, giá cả là công cụ cạnh tranh đợc các doanh
nghiệp sử dụng rất phổ biến, nhất là đối với những thị trờng mà thu nhập bình
quân của ngời tiêu dùng còn thấp. Để tăng khả năng cạnh tranh của mình, các
doanh nghiệp có thể định mức giá bán thấp nhằm thu hút khách hàng, vì nó tác
động trực tiếp tới túi tiền của ngời tiêu dùng. Tuy nhiên, giá thấp lại ảnh hởng
tới lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời dễ tạo ra tâm lý đánh đồng giá với
chất lợng của khách hàng. Mặt khác, nó cũng có thể làm cho mức độ cạnh
tranh trên thị trờng quyết liệt hơn. Vì vậy, khi ra các quyết định về giá các
doanh nghiệp đều phải cân nhắc rất kỹ lỡng và phải tuỳ thuộc vào đặc điểm thị
trờng, vào mục tiêu và khả năng của mình để có quyết định hợp lý.
2.3.Xúc tiến bán hàng.
Theo quan niệm của marketing, đây là một trong 4 nhóm công cụ chủ
yếu của marketing - mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị
trờng mục tiêu nhằm đạt đợc mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Xúc tiến
bán hàng đợc hiểu là: các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực marketing
của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng hoá và cung
ứng dịch vụ. Nội dung của xúc tiến bán hàng đợc xác định bao gồm các nội
11
dung chủ yếu: quảng cáo bán hàng, khuyến mại, tham gia hội chợ triển lãm,
bán hàng trực tiếp và quan hệ công chúng.
Xúc tiến bán hàng là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trờng và
tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị tr-
ờng. Thông qua xúc tiến, các doanh nghiệp tiếp cận đợc với thị trờng tiềm
năng của mình, cung cấp cho khách hàng tiềm năng những thông tin cần thiết,
những dịch vụ u đãi để tiếp tục chinh phục khách hàng của doanh nghiệp và
lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Hoạt động xúc tiến sẽ tạo ra hình
ảnh đẹp về doanh nghiệp trớc con mắt của khách hàng, lợi thế cạnh tranh của
doanh nghiệp nhờ thế mà không ngừng tăng lên.
Thêm vào đó, xúc tiến bán hàng còn kích thích ngời tiêu dùng mua sản
phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn, thu hút đợc các khách hàng tiềm năng từ
đó làm tăng khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp, doanh nghiệp ngày càng đợc
khách hàng a chuộng hơn. Vì vậy, để nâng cao khả năng cạnh tranh, một vấn
đề quan trọng ảnh hởng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là phải tổ
chức tốt xúc tiến bán hàng.
2.4.Phân phối.
Hiện nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm đến phân phối nh
là biến số marketing tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp trên thị
trờng. Hoạt động phân phối giải quyết vấn đề hàng hoá dịch vụ đợc đa nh thế
nào đến ngời tiêu dùng. Vì vậy, doanh nghiệp nào có cách thức tổ chức hệ
thống phân phối sản phẩm, dịch vụ của mình tốt, tạo ra sự thuận tiện nhanh
chóng cho ngời tiêu dùng thì việc đó sẽ góp phần làm tăng khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trên thị trờng lên khá nhiều. Các doanh nghiệp tổ chức
và quản lý hoạt động phân phối thông qua các hệ thống kênh phân phối.
Kênh phân phối là con đờng mà hàng hoá đợc lu thông từ nhà sản xuất
đến ngời tiêu dùng. Nhờ có mạng lới phân phối mà khắc phục đợc những khác
12
biệt về thời gian địa điểm và quyền sở hữu giữa ngời sản xuất với ngời tiêu
dùng các hàng hoá dịch vụ. Các kênh phân phối phải thực hiện các chức năng
chủ yếu sau:
- Nghiên cứu thị trờng, thu thập các thông tin cần thiết
- Xúc tiến khuyếch trơng: Cho những sản phẩm họ bán. Soạn thảo và
truyền bá những thông tin về hàng hoá.
- Phân phối vật chất: Vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hoá.
- Thiết lập các mối quan hệ: Tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những ng-
ời mua tiềm năng.
Hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng nhiều hình thức khác nhau để phân
phối hàng hoá tới ngời tiêu dùng nhng về lý thuyết có hai loại kênh phân phối
cơ bản đó là:
- Kênh trực tiếp: Là loại kênh phân phối trong đó hàng hoá đợc chuyển đa
thẳng từ ngời sản xuất tới ngời tiêu dùng.
Ưu điểm: Dễ dàng thu thập các thông tin phản hồi từ khách hàng, thời
gian thu thập nhanh. Khă năng nghiên cứu, dự đoán thị trờng cao. Giám sát đ-
ợc hàng hoá, đảm bảo uy tín của doanh nghiệp.
Nhợc điểm: Chi phí tơng đối cao, khả năng phân phối hàng hoá thấp.
- Kênh gián tiếp: Là loại kênh trong đó có sự tham gia của các trung gian
phân phối.
Ưu điểm: + Không mất nhiều chi phí cho việc thành lập kênh.
+ Khả năng phân phối hàng hoá rộng hơn.
+ Tiết kiệm các chi phí tơng đối.
+ Xây dựng mạng lới phân phối rộng hơn so với tiềm năng.
+ Tận dụng cơ sơ vật chất sẵn có của ngời trung gian.
+ Tận dụng uy tín, lực lợng khách hàng, mối quan hệ hiện
có của ngời trung gian.
Nhợc điểm: + Thông tin thu thập chậm, có thể sai lệch.
13
+ Khả năng nghiên cứu, dự đoán thị trờng thấp.
+ Phải chia sẻ lợi nhuận.
+ Không giám sát đợc hoạt động của ngời trung gian.
Căn cứ vào u nhợc điểm của từng loại kênh phân phối, tình hình thị trờng
và đặc điểm hàng hoá của mình mà doanh nghiệp ra quyết lựa chọn loại kênh
nào hoặc là sử dụng kết hợp với nhau.
2.5.Các dịch vụ kèm theo.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính cạnh tranh cao nh hiện
nay, vai trò của các dịch vụ kèm theo hàng hoá ngày càng quan trọng. Nó bao
gồm các hoạt động trong và sau bán hàng nh vận chuyển, bao gói, lắp đặt, bảo
dỡng, bảo hành, t vấn Cải tiến dịch vụ cũng chính là nâng cao chất lợng hàng
hoá của doanh nghiệp. Do đó phát triển hoạt động dịch vụ là rất cần thiết, nó
đáp ứng mục tiêu phục vụ khách hàng tốt hơn, tạo ra sự tín nhiệm sự gắn bó
của khách hàng đối với doanh nghiệp đồng thời giữ gìn uy tín của doanh
nghiệp. Từ đó doanh nghiệp có thể thu hút đợc khách hàng tăng khả năng cạnh
tranh của hàng hoá của mình trên thị trờng.
3.Vai trò của việc nâng cao khả năng cạnh tranh.
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trớc đây ở nớc ta, hầu nh không tồn
tại phạm trù cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và toàn bộ quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh đều đợc tiến hành theo kế hoạch, doanh nghiệp không
phải tự tìm kiếm khách hàng mà chỉ có khách hàng tìm đến doanh nghiệp.
Doanh nghiệp kinh doanh có lãi thì nộp vào ngân sách Nhà nớc, ngợc lại thì đ-
ợc Nhà nớc bù lỗ. Do vậy, doanh nghiệp vẫn tồn tại mà không bị phá sản nhng
không tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển. Khi chuyển sang cơ chế thị
trờng thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và nó không chỉ có vai trò quan trọng
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét