Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Giải pháp hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế thông qua phương thức tín dụng chứng từ tại BIDV Hà Nội

5
ời hởng lợi có quyền chuyển nhợng quyền thực hiện L/C cho một ngời/hoặc nhiều
ngời khác gọi là ngời hởng lợi thứ hai(trong trờng hợp L/C chuyển nhợng). Hay
nói cách khác ngời hởng lợi có thể là một ngời hoặc có thể là nhiều ngời.
+Theo luật pháp Việt Nam
Ngời hởng lợi là những doanh nghiệp đợc phép kinh doanh xuất khẩu, uỷ
thác ngời khác xuất khẩu hoặc nhận uỷ thác xuất khẩu cho ngời khác những mặt
hàng trong đăng ký kinh doanh phù hợp với chính sách xuất nhập khẩu của Nhà n-
ớc.
1.1.5. L/C là một chứng th cam kết có điều kiện
+Mở L/C có điều kiện tức là ngời Bán phải thực hiện một số điều kiện nào
đó đợc qui định trong hợp đồng thì ngời Mua mới đồng ý mở L/C qua Ngân hàng
Phát hành, vì ngời Mua không tin chắc hoàn toàn vào khả năng thực hiện hợp đồng
của ngời Bán.
Có 2 điều kiện có thể đợc sử dụng
- Điều kiện về tài chính : Nghĩa là ngời Bán phải đặt cọc( thông thờng là
5% - 10% giá trị hợp đồng) đảm bảo thực hiện hợp đồng xuất khẩu tại
một Ngân hàng đợc chỉ định( Số tiền đó không đợc sử dụng tín dụng
ngân hàng)
- Điều kiện về tín dụng : Tức là theo yêu cầu của ngời Bán, Ngân hàng của
ngời Bán sẽ phát hành th Bảo đảm(Letter of Guarantee L/G) hoặc th
tín dụng dự phòng ( Stand-by L/C) cho ngời Mua hởng (khoảng 5% giá
trị L/C).
Do đó mở L/C không điều kiện đồng nghĩa với việc Ngân hàng Phát hành
mở L/C theo yêu cầu của ngời Mua mà không cần bất kỳ điều kiện nào từ phía ng-
ời Bán ngoài việc xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo cho Ngân hàng.
1.1.6. Ngân hàng cam kết trả tiền cho ngời hởng lợi
Điều đó đợc thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất, L/C là một chứng th cam kết có điều kiện, trong đó cam kết trả
tiền các hối phiếu của ngời hởng lợi ký phát đòi tiền Ngân hàng( hoặc Ngân hàng
6
phát hành hoặc Ngân hàng trả tiền tuỳ thuộc vào qui định trong L/C) kèm theo bộ
chứng từ hoàn hảo phù hợp với những điều kiện và điều khoản trong L/C.
Thứ hai, Hối phiếu do ngời hởng lợi ký phát, muốn đòi đợc tiền Hối phiếu
thì phải ký hậu chuyển nhợng.
Ngân hàng Phát hành mở L/C hay Ngân hàng Trả tiền(đợc qui định trong L/
C) cam kết trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu hối phiếu trả ngay/có kỳ hạn nếu
ngời hởng lợi xuất trình bộ chứng từ sạchcho Ngân hàng. Nếu cần lấy tiền ngay
ngời hởng lợi có thể bán lại tờ hối phiếu đó cho Ngân hàng Chiết khấu(NHCK).
Ngân hàng này sẽ thực hiện nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu( Nghĩa là khách hàng
sẽ chuyển giao quyền sở hữu hối phiếu cha đáo hạn cho NHCK bằng cách ký hậu
hối phiếu(Endorsement), để nhận đợc một số tiền có giá trị bằng mệnh giá hối
phiếu trừ đi lợi tức chiết khấu và lệ phí chiết khấu. Do vậy, khi Ngân hàng thực
hiện nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu, Ngân hàng sẽ khấu trừ tiền lãi ngay và chỉ
chuyển cho khách hàng số tiền còn lại.
Giá trị chiết khấu có thể tính theo công thức:
T
ck
= M x (1 - t x L
ck
/360) - P
Trong đó : * T
ck
- Giá trị chiết khấu
*M - Mệnh giá hối phiếu
*L
ck
- Lãi suất chiết khấu(tính theo năm)
*t - Thời hạn chiết khấu(tính theo ngày)
*P - Lệ phí chiết khấu
1.1.7 Những bên tham gia chủ yếu vào phơng thức tín dụng chứng từ
+Ngời yêu cầu mở L/C(Applicant) là ngời yêu cầu phát hành hoặc thiết lập/
tu chỉnh L/C. Thông thờng đây là ngời Mua, ngời Nhập khẩu
+Ngời hởng lợi L/C(Beneficiary) có thể là một hoặc nhiều ngời hởng lợi số
tiền L/C nếu chứng từ xuất trình phù hợp với những điều kiện và điều khoản trong
L/C. Thông thờng ngời hởng lợi là ngời Bán, ngời Xuất khẩu.
7
+Ngân hàng Mở/ Phát hành L/C(Opening/Issuing Bank) : là Ngân hàng đ-
ợc yêu cầu mở/phát hành/ thiết lập L/C và cam kết trả tiền cho ngời hởng lợi L/C.
+ Ngân hàng Thông báo( Advising Bank): thờng là Ngân hàng đại lý của
Ngân hàng Phát hành ở nớc ngời hởng lợi. Ngân hàng này xác minh tính chân thực
bề ngoài của L/C và sau đó thực hiện thông báo cho ngời hởng lợi rằng L/C đã đợc
thiết lập. Trong trờng hợp Ngân hàng Phát hành không có quan hệ đại lý với Ngân
hàng Thông báo( theo chỉ định của ngời yêu cầu mở L/C) thì phải thông qua Ngân
hàng thứ ba(Correspondent Bank) có quan hệ đại lý với mình tại nớc ngời hởng lợi
để chuyển tiếp tới Ngân hàng Thông báo thông báo cho ngời hởng biết L/C đã đợc
mở.
1.2) Qui trình nghiệp vụ thanh toán trong phơng thức tín dụng chứng
từ(TDCT)
(1a) Ngời nhập khẩu và ngời xuất khẩu ký kết hợp đồng ngoại thơng trong
hợp đồng qui định thanh toán bằng TDCT.
(1b) Ngời nhập khẩu lập thủ tục đề nghị NH phục vụ mình phát hành tín
dụng theo những điều kiện và điều khoản trong hợp đồng ngoại thơng.
(2) NH sau khi xem xét đề nghị mở L/C, nếu chấp thuận sẽ phát hành L/C
cho NH phục vụ ngời nhập khẩu (NHTB).
(3) NHTB thông báo L/C cho ngời xuất khẩu
(1a)
Người
Hưởng lợi
Người yêu cầu
mở L/C
Ngân hàng
Thông báo
Ngân hàng
Phát hành
(3)
(4)
(7)
(8)
(9)
(5)
(2)
(6)
(1b)
8
(4) Ngời xuất khẩu sau khi xem xét ràng buộc trong L/C phù hợp với thoả
thuận trong hợp đồng, sẽ tiến hành giao hàng nếu không sẽ đề nghị
NHTB thực hiện việc tu chỉnh.
(5) Ngời xuất khẩu tập hợp chứng từ theo yêu cầu trong L/C, xuất trình
chứng từ với NH phục vụ mình.
(6) NHTB chuyển chứng từ đòi tiền NHPH
(7) NHPH trả ngay hoặc ký chấp nhận (nếu trả sau) cho ngời hởng lợi qua
NHTB.
(8) NHPH chuyển chứng từ cho ngời mua (nếu ngời mua chấp nhận thanh
toán)
(9) Ngời mua kiểm tra chứng từ nếu phù hợp thì trả tiền ngay hoặc ký chấp
nhận trả tiền để lấy bộ chứng từ đi lấy hàng.
1.3. Phơng thức TDCT dới tác động của thông lệ quốc tế và luật pháp
quốc gia
Khi tiến hành các giao dịch quốc tế bằng L/C, các bên đều phải tôn trọng
luật pháp, thông lệ và tập quán quốc gia của mình và của đối tác. Song điều đó
nhiều khi lại gây trở ngại cho hoạt động thơng mại quốc tế, bởi vì mỗi quốc gia có
một thể chế chính trị khác nhau, hệ thống luật pháp, thông lệ và tập quán khác
nhau. Do đó vấn đề đặt ra phải có những qui định mang tính thống nhất cho tất cả
các quốc gia tham gia vào thanh toán TDCT . Bản Qui tắc thực hành thống nhất
về tín dụng chứng từ của Phòng thơng mại quốc tế(The Uniform Customer and
Practice for documentary credits, ICC 1993) ra đời là một tất yếu khách quan của
sự phát triển hoạt động thơng mại quốc tế thanh toán bằng L/C. UCP là tập quán
quốc tế thống nhất điều chỉnh về TDCT.
1.3.1. Quá trình ra đời và phát triển của UCP
UCP lần đầu tiên ra đời vào năm 1933 tại Đại hội 7 của Phòng thơng mại
quốc tế ( ở Vienna, Austria), ICC ban hành UCP nhằm đáp ứng nhu cầu của giới
Tài chính, Ngân hàng cũng nh các nhà xuất nhập khẩu về một văn bản qui định
đầy đủ, dễ áp dụng và mọi ngời đều chấp nhận cho quá trình mở và xử lý một th
tín dụng. Cơ quan soạn thảo UCP của ICC là Uỷ ban Ngân hàng( Banking
9
Commission) tập hợp những nhà chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tài chính
Ngân hàng khắp thế giới.
Kể từ đó đến nay, UCP đã qua 5 lần sửa đổi vào các năm 1951( do UCP
1933 đã bị lạc hậu), năm 1960( do sự phát triển của công nghệ vận tải), năm 1974(
do sự phát triển của công nghệ thông tin, sao chép ), năm 1983( do sự phát triển
toàn diện của công nghệ Ngân hàng, vận tải, bảo hiểm ) và năm 1993( do sự sắp
xếp lại các điều khoản cho dễ tra cứu và chính xác hoá thêm nhiều vấn đề) với
mục đích theo kịp sự phát triển chung của nền thơng mại, nền công nghiệp vận tải
và truyền thông trên thế giới. Bản qui tắc sau là bản sửa đổi của bản trớc,tuy vậy
không làm mất đi tính hiệu lực của các bản qui tắc đã ban hành. Vì vậy, các bên
tham gia trong giao dịch bằng TDCT có quyền lựa chọn áp dụng một trong các
Bản qui tắc ấy tuỳ thuộc theo trình độ phát triển của mình. Nhng thực tế hiện nay
cho thấy, hầu hết các nớc đều sử dụng UCP ấn bản số 500- xuất bản năm 1993 của
ICC ( gọi tắt là UCP 500)
1.3.2.Tính chất pháp lý của UCP 500
Phòng Thơng mại Quốc tế(ICC) là một tổ chức mang tính xã hội chứ không
phải một tổ chức liên chính phủ. Chính vì vậy mà các văn bản pháp lý của ICC
không đợc coi là Luật.
UCP chỉ là tập quán quốc tế, không mang tính bắt buộc phải áp dụng, nên
nội dung mang tính chất khuyến nghị, hớng dẫn hơn là bắt buộc thi hành.
Nếu các bên muốn áp dụng thì phải ghi rõ vào L/C( subject to UCP 500) nếu
không dùng thì không ghi và L/C sẽ áp dụng theo tập quán của mỗi nớc. Nếu chỉ
ghi tham chiếu UCP 500 vào hợp đồng, mà không ghi vào L/C thì cũng không có
giá trị thi hành.
Phạm vi áp dụng UCP mang tính chất toàn cầu( trên 174 nớc)
Mặc dù thơng mại quốc tế đã phát triển và có nhiều thay đổi, TDCT vẫn là
một phơng thức đợc sử dụng rộng rãi và UCP vẫn đợc coi là công cụ quan trọng
của các Ngân hàng thơng mại và doanh nghiệp trên khắp thế giới.
1.3.3.áp dụng UCP vào Việt Nam.
10
Việt Nam bớc vào nền kinh tế thị trờng và hoà nhập vào nền mậu dịch thế
giới từ cuối thập niên 80. Hoạt động thơng mại và Ngân hàng ngày càng sôi động
và phát triển, nhất là khi có sự hiện diện ngày càng nhiều các nhà đầu t nớc ngoài,
và các chi nhánh Ngân hàng lớn của thế giới.
Bởi vậy, cho đến nay UCP 500 đợc tất cả các Ngân hàng ở Việt Nam áp
dụng thực hiện trong hoạt động thanh toán quốc tế nhằm hoà nhập vào mạng lới
xuất nhập khẩu toàn cầu.
Căn cứ vào UCP 500 các Ngân hàng Việt Nam thiết lập các qui trình thanh
toán bằng TDCT của riêng mình, nhng không đi ngợc lại tinh thần của UCP 500.
1.3.4. Mối quan hệ giữa UCP 500 và hệ thống luật quốc gia
UCP là tập quán quốc tế đợc áp dụng trên toàn cầu, còn luật pháp quốc gia
chỉ có giá trị hiệu lực thi hành trong biên giới của nớc đó.
Thông thờng, luật quốc gia rất ít có xung đột với thông lệ và tập quán quốc
tế. Bởi vì, ít nhiều luật quốc gia cũng đợc hình thành và phát triển trên cơ sở thông
lệ quốc tế. Tuy nhiên đối với UCP500 luật pháp của các quốc gia có những mâu
thuẫn nhất định. Mức độ khác biệt giữa hai hệ thống pháp lý này phụ thuộc phần
lớn vào đặc thù của từng nớc, vào trình độ phát triển, vào quá trình mở cửa và hội
nhập với nền thơng mại thế giới của đất nớc đó. Song quan điểm mà UCP500 luôn
nêu ra một cách rõ ràng là khi có những khác biệt hoặc thậm chí đối lập vơí UCP
thì luật quốc gia sẽ đợc tôn trọng và tuân thủ.
Ngoại trừ Mỹ và Colombia là hai nớc duy nhất chấp nhận UCP là một bộ
phận của hệ thống pháp luật của họ, các nớc còn lại trên thế giới đều nhìn nhận
Incoterm và UCP là hai văn bản nằm trong hệ thống thông lệ và tập quán quốc tế
mà khách hàng các nớc muốn trao đổi mậu dịch với nhau đều tuân thủ. Tuy nhiên,
mức độ vận dụng UCP vào thực tiễn của các nớc trên thế giới là khác nhau phụ
thuộc vào trình độ phát triển, hệ thống pháp luật, thông lệ và tập quán của từng
quốc gia. Chẳng hạn, Theo Bộ luật dân sự(Civil Code) của Liên Bang Nga có hiệu
lực từ 01-03-1996, qui định một số vấn đề về giao dịch tín dụng chứng từ liên quan
đến UCP 500. Luật này điều chỉnh khá nhiều các điều khoản của UCP 500 thậm
chí có một số điều khoản còn trái ngợc với thông lệ quốc tế. Thí dụ Điều 873, ch-
11
ơng 46 quy định nếu NH không nói rõ tín dụng th không đợc huỷ ngang, thì nó đ-
ợc coi là huỷ ngang, trái ngợc với điều 5 của UCP 500, trong trờng hợp đó nó đợc
xem là L/C không thể huỷ ngang.
Đối với nớc ta việc áp dụng UCP500 trong các tổ chức tín dụng NH đợc
phép thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế gần nh tuyệt đối mà không bị bất cứ
một sự điều chỉnh nào, chỉ khi nào có vụ việc phát sinh thì mới có sự can thiệp của
toà án. Cho đến nay, chúng ta vẫn cha có văn bản nào quy định, hớng dẫn việc áp
dụng UCP và các thông lệ khác trong giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu bằng L/
C để các NH thơng mại áp dụng vào thực tế các văn bản nh vậy rất cần thiết không
chỉ đối với NH mà còn là cơ sở để toà án, trọng tài kinh tế áp dụng, xét xử các
tranh chấp nếu có.
1.4. Th tín dụng thơng mại(Letter of credit - L/C)
1.4.1. Khái niệm
L/C là một văn bản đợc NH lập ra theo yêu cầu của khách hàng (ngời yêu
cầu mở L/C / ngời nhập khẩu) nhằm cam kết trả tiền cho ngời bán (ngời hởng lợi /
ngời xuất khẩu) một số tiền nhất định, trong một thời hạn nhất định với điều kiện
ngời này thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản quy định trong th tín dụng.
Thuật ngữ "tín dụng" bắt nguồn từ Creditum( gốc Latin) hay Credit không
đợc hiểu duy nhất với nghĩa tín dụng, mà đợc sử dụng và hiểu theo nghĩa rộng là
sự tín nhiệm. Trong trờng hợp ngời nhập khẩu kí quĩ 100% số tiền của th tín dụng
thì thực chất NH không cấp 1 khoản tín dụng nào cả mà là cho ngời nhập khẩu
"vay" sự tín nhiệm của mình. Tức là lời hứa trả tiền của NH thay cho lời hứa trả
tiền của nhà nhập khẩu, vì ngời ta tin tởng NH hơn là tin tởng nhà nhập khẩu ít ra
về phơng diện tài chính. Vì lẽ đó, đối với NH phơng thức tín dụng chứng từ còn có
thể gọi là hình thức "tín dụng bằng chữ ký"
1.4.2. Chức năng của L/C
12
- L/C là công cụ quan trọng nhất trong hoạt động thanh toán quốc tế bằng
tín dụng chứng từ. Bởi vì nếu L/C đợc lập ra thì phơng thức này cũng không còn
tồn tại.
- L/C là một văn bản pháp lý thể hiện cam kết trả tiền của NH đối với ngời
hởng lợi nếu ngời đó xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp với những điều kiện
và điều khoản trong L/C.
- L/C là phơng tiện cấp tín dụng cho ngời mở L/C, nhà nhập khẩu.
Bởi vì khi NH phát hành ra L/C thì NH đã chịu cấp cho nhà nhập khẩu
"khoản tín nhiệm" của mình. Nghĩa là trong bất cứ trờng hợp nào ngời hởng lợi
tuân thủ chặt chẽ quy định của L/C thì NH đều phải trả tiền cho họ (trách nhiệm
trả tiền chuyển từ ngời nhập khẩu sang NH).
1.4.3. Đặc điểm & tính chất của L/C
L/C hình thành trên cơ sở HĐMBNT nhng sau khi ra đời lại hoàn độc lập
với HĐMB này.
L/C đợc hình thành trên cơ sở HĐMBNT
- Việc đồng ý áp dụng phơng thức thanh toán bằng L/C do cả hai bên ngời
mua ngời bán thống nhất và đợc quyết định trong HĐNT. Khi HĐ quyết định sử
dụng L/C thì ngời mua mới có trách nhiệm yêu cầu NH phục vụ mình mở L/C cho
ngời bán hởng. Sau khi L/C đã đợc mở và đợc ngời bán chấp nhận thì ngời bán sẽ
tiến hành giao hàng.
- Xét về mặt bản chất, L/C là một chứng th cam kết của NH phục vụ ngời
mua đối với ngời bán về nghĩa vụ thanh toán tiền hàng đợc quyết định trong hợp
đồng mua bán (số lợng, giá cả). Vì vậy L/C phải phản ánh đợc thực tế giá trị của
hợp đồng mua bán này.
- Trong trờng hợp nếu hợp đồng mua bán đợc điều chỉnh (chẳng hạn giá bán
hàng hoá biến động làm tăng giá hàng hoá lên ) thì việc sửa đổi L/C sẽ đợc tiến
hành sao cho phù hợp với vốn những quyết định trong hợp đồng mua bán sửa đổi
trên.
13
Sau khi ra đời th tín dụng hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán
Theo qui định của UCP: Th tín dụng và hợp đồng mua bán mà nó có thể
căn cứ xác lập, là các giao dịch độc lập với nhau cho dù trong th tín dụng có đề
cập đến hợp đồng, nhng NH không có trách nhiệm và liên quan đến hợp đồng
đó, do vâỵ không bị nó ràng buộc
Thật vậy:
- Trờng hợp phát hành L/C chỉ căn cứ trên cơ sở đơn xin mở L/C, số tiền
trên tài khoản và hợp đồng mua bán của ngời mua để mở L/C cho ngời bán hởng.
Tuy nhiên quan trọng là NH sẽ mở L/C cho ngời mua hởng theo đơn xin mở L/C,
còn HĐMB hàng hoá chỉ là bằng chứng kiểm tra tính chân thực của khách hàng
mà thôi.
- Trong một số L/C thờng không phản ánh tất cả đợc các nội dung của hợp
đồng ( chủng loại, phẩm chất, quy cách ) nhng nó sẽ đợc dẫn chiếu tới điều
khoản phẩm chất trong hợp đồng ngoại thơng. Trong mọi trờng hợp NH chỉ căn cứ
vào nội dung của L/C mà không quan tâm đến nội dung hợp đồng.
- Khi ngời Bán xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp với điều kiện và
điều khoản qui định trong L/C thì NH sẽ tiến hành trả tiền cho ngời hởng lợi mà
không biết là hợp đồng có đợc thực hiện hay không. Nói cách khác NH chỉ quan
tâm đến bề mặt của các chứng từ để thanh toán cho ngời xuất khẩu chứ không
quan tâm đến việc hoàn thành nghĩa vụ giao hàng( Đó là quan hệ thơng mại giữa
ngời Mua và ngời Bán), kể cả trong trờng hợp chứng từ bị giả mạo.
- Sửa đổi hợp đồng mà không sửa đổi L/C thì NH chỉ căn cứ vào L/C để thực
hiện nghĩa vụ của mình chứ không quan tâm đến hợp đồng nói trên.
Ngợc lại thông qua NH sửa đổi L/C nhng không sửa đổi hợp đồng thì đến
khi xuất trình chứng từ tuy phù hợp với những điều khoản hợp đồng song lại không
phù hợp với L/C. NHPH có quyền từ chối thanh toán bộ chứng từ đó.
- Hợp đồng có thể bị huỷ bỏ, đó là quan hệ thơng mại giữa ngời nhập khẩu
và ngời nhập khẩu song L/C đã đợc mở ra tức là quan hệ kinh tế giữa NH và ngời
14
xuất khẩu đợc thiết lập, bởi vậy điều đó không có nghĩa huỷ bỏ trách nhiệm của
NH đối với L/C.
Khi ngời mua và ngời bán huỷ hợp đồng thì đây là lý do chính đáng để yêu
cầu NH huỷ bỏ L/C. Song ngời hởng lợi là ngời đề nghị huỷ L/C và có sự đồng ý
của ngời mở L/C.
1.4.4. Nội dung chủ yếu của L/C
a) Số hiệu, địa điểm, ngày mở L/C.
b) Tên, địa chỉ những ngời có liên quan.
c) Số tiền của L/C
d) Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng.
e) Những nội dung về hàng hoá nh: tên hàng, số lợng, trọng lợng, giá cả,
quy cách, phẩm chất, ký mã hiệu,
g) Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá nh điều kiện giao hàng,
cách vận chuyển và cách giao hàng.
h) Sự cam kết trả tiền của NH mở L/C, ràng buộc trách nhiệm của NH mở
L/C.
i) Những chứng từ mà ngời xuất khẩu phải xuất trình.
Đây là nội dung then chốt của L/C. Bởi vì, bộ chứng từ quy định trong L/C
là một bằng chứng của ngời xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng và làm đúng những điều quy định trong L/C. Do vậy, NH mở L/C
phải dựa vào đó để tiến hành trả tiền cho ngời xuất khẩu, nếu bộ chứng từ phù hợp
với những quy định trong L/C.
Thông thờng một bộ chứng từ bao gồm:
*Hoá đơn thơng mạ
*Chứng từ vận tải
* Các chứng từ bảo hiểm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét