Chuên đề tốt nghiệp
1.1.2. Huy động vốn .
Đây là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho sự hoạt động của ngân
hàng. Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội là lẽ sống của các
ngân hàng thơng mại. Hoạt động huy động vốn đợc thể hiện dới các hình
thức sau:
- Nhận tiền gửi
Tiền gửi là nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của mọi ngân hàng thơng mại,
hoạt động này cũng thể hiện một đặc trng cơ bản của NHTM so với các tổ
chức tài chính khác. Căn cứ vào các tiêu thức phân chia có thể gồm các loại
hình tiền gửi sau:
Nếu phân chia theo thời hạn :
- Tiền gửi không kỳ hạn : bao gồm các loại tiền gửi thanh toán , tiền
gửi tiết kiệm không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế và dân c. Ngời gửi
tiền có thể rút bất cứ lúc nào.
- Tiền gửi có kỳ hạn: có sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách
hàng và ngân hàng. Về nguyên tắc ngời gửi không đợc rút tiền trớc
thời hạn ( trừ trờng hợp đặc biệt).
Nếu phân chia theo mục đích thì bao gồm tiền gửi phi giao dịch và
tiền gửi giao dịch.
- Tiền gửi giao dịch: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng
phục vụ mục tiêu thanh toán, họ có thể yêu cầu ngân hàng thanh toán
và chi trả cho họ bất cứ lúc nào. Khoản này có thể đợc trả lãi hay
không tuỳ thuộc vào quy định của ngân hàng.
- Tiền gửi phi giao dịch: bao gồm tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức kinh
tế, tiền gửi tiết kiệm của dân c. Mục tiêu chính của khách hàng là lợi
nhuận nên ngân hàng phải trả một khoản phí khá cao khi huy động
loại này.
Trái phiếu cũng là một công cụ quan trọng trong huy động vốn của
ngân hàng. Chúng có thể là trái phiếu ngắn hạn hoặc dài hạn với tên gọi khác
nhau nh tín phiếu ngân hàng, kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng.
5
Chuên đề tốt nghiệp
Vay mợn từ NHTW hoặc từ các ngân hàng thơng mại khác ( trong và
ngoài nớc ) cũng là một cách thức quan trọng để huy động vốn hoặc trong
các trờng hợp cần thiết.
1.2. Hoạt động sử dụng vốn
Huy động đợc vốn rồi, các NHTM cần phải sử dụng chúng một cách thật
hiệu quả sao cho có thể bù đắp những chi phí mà ngân hàng bỏ ra đồng thời
tạo ra đợc lợi nhuận.
- Một trong các hoạt động sử dụng vốn cơ bản của ngân hàng là hoạt
động ngân quỹ, để duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng để đáp ứng
nhu cầu rút tiền và thanh toán thờng xuyên của khách hàng. Nguồn đảm bảo
cho hoạt động này là các khoản tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHTW ( đây là
khoản dự trữ bắt buộc do NHTW quy định dựa trên tỷ lệ %
vốn huy động ), tiền gửi ở ngân hàng khác và tiền mặt trong quá trình thu.
- Hớng cơ bản trong sử dụng vốn của ngân hàng là cho vay và đầu t,
trong đó cho vay là quan trọng nhất. Có thể phân chia cho vay theo nhiều tiêu
thức khác nhau, cụ thể:
Nếu phân chia theo thời gian:
- Cho vay ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn cho vay dới 12
tháng. Là loại cho vay mà ngân hàng thu đợc nhiều lợi nhuận và ít chịu rủi ro
hơn so với cho vay trung và dài hạn.
- Cho vay trung và dài hạn: là loại cho vay đợc thực hiện đối với
những chơng trình, dự án phát triển kinh tế- xã hội.
Nếu phân chia theo ngành kinh tế
- Cho vay ngành nông nghiệp
- Cho vay công nghiệp và thơng mại
- Cho vay xây dựng cơ bản
Nếu phân chia theo đối tợng :
- Cho vay tài trợ tài sản lu động
- Cho vay tài trợ máy móc thiết bị
Hoạt động đầu t bao gồm:
6
Chuên đề tốt nghiệp
- Ngân hàng đầu t vào chứng khoán ngắn hạn, chủ yếu là chứng khoán
ngắn hạn của chính phủ. Hoạt động này vừa là hoạt động kinh doanh mang
lại lợi nhuận cho ngân hàng vừa góp phần điều hoà lu thông tiền tệ trong nền
kinh tế
- Ngân hàng còn đợc phép mua cổ phiếu và trái phiếu của các doanh
nghiệp, qua đây những ngân hàng lớn tham gia vào việc thành lập và quản lý
các doanh nghiệp.
Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức ngân hàng dựa vào uy tín của mình để
bảo lãnh thanh toán cho khách hàng. Hợp đồng bảo lãnh cam kết bằng văn
bản với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng trong trờng hợp không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết và khách
hàng phải nhận nợ và hoàn trả tổ chức tín dụng số tiền đã đợc trả thay.
1.3. Hoạt động dịch vụ trung gian
Đây là hoạt động ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của khách hàng,
ngày nay hoạt động này càng ngày càng phát triển vì qua đó ngân hàng có
thể nâng cao thêm thu nhập, đồng thời củng cố thêm uy tín của mình với
khách hàng.
- Dịch vụ thanh toán hộ:
Theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng
các phơng tiện thanh toán nh séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, th tín
dụngnhằm thực hiện thanh toán cho khách hàng.
- Dịch vụ mua bán hộ chứng khoán:
Do có uy tín nên ngân hàng thờng tham gia bảo lãnh phát hành chứng
khoán cho các công ty cổ phần muốn huy động vốn, t vấn đầu t chứng khoán
cho khách hàng.
- Dịch vụ mua bán ngoại tệ.
- Dịch vụ uỷ thác, đại lý tài sản vốn đầu t của các tổ chức, cá nhân theo
hợp đồng.
- Ngoài ra ngân hàng còn có các dịch vụ khác nh bảo quản tài sản quý,
cho thuê két sắt, ở nớc ta hiện nay hoạt động trung gian vẫn còn cha
phát triển vì nền kinh tế còn phát triển chậm.
7
Chuên đề tốt nghiệp
Tóm lại: Các hoạt động của một ngân hàng rất phong phú. Cùng với thời
gian, những hoạt động này càng ngày càng đa dạng để đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của khách hàng. Tuy vậy, trong các hoạt động của NHTM thì hoạt
động tín dụng vẫn là hoạt động quan trọng nhất, là hoạt động sinh lời chủ
yếu, quyết định kết quả kinh doanh của ngân hàng. Tăng cờng hoạt động tín
dụng cũng là phải đối phó với rủi ro nhiều hơn, bởi vậy các NHTM phải đề ra
các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động của mình.
2. Vai trò của ngân hàng thơng mại
Trải qua một thời gian dài tồn tại, ngân hàng thơng mại đã ngày càng
chứng tỏ vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân. Cụ thể là
ở các mặt sau đây:
Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc
đẩy sản xuất và lu thông hàng hoá
NHTM không những cung ứng tín dụng cho doanh nghiệp, mà còn
thông qua chức năng làm trung gian tài chính đã thực hiện việc tập trung các
khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội. Mặt khác, nó dùng chính số tiền
đã huy động đợc để cho vay đối với thành phần kinh tế. Chính nguồn vốn này
đã góp phần thúc đẩy và lu thông hàng hoá phát triển, đáp ứng đầy đủ nhu
cầu về vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân duy trì liên tục quá trình sản xuất
với quy mô ngày càng lớn, cải tiến máy móc, quy trình công nghệ hiện đại để
tồn tại trong cạnh tranh và phát triển. Từ đó nâng cao chất lợng sản phẩm và
góp phần tăng lợng hàng hoá đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của toàn xã
hội.
Thứ hai, NHTM là một công cụ để Nhà Nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
NHTM là trung gian thông qua đó NHTW điều tiết nền kinh tế phục
vụ các mục tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn của chính phủ. Bằng việc ấn định tỷ lệ
dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, lãi suất tái cấp vốn cho NHTM, NHTW đã
gián tiếp thay đổi lợng cung tiền trong lu thông. Cụ thể khi tăng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc của NHTM tại NHTW, lợng vốn cho vay các doanh nghiệp sẽ giảm,
do đó tiền đa vào lu thông sẽ giảm. Đối với đặt hạn mức tín dụng, NHTW
8
Chuên đề tốt nghiệp
quy định số tiền tối đa mà doanh nghiệp có thể cho vay trong một thời kỳ
nhất định bất kể ngân hàng thơng mại huy động đợc bao nhiêu vốn từ xã hội
Thứ ba, NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc
tế.
Xu hớng hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới đang trở thành xu h-
ớng tất yếu trong thời kỳ mới. Thông qua việc cung cấp vốn thúc đẩy nền
kinh tế phát triển, tạo điều kiện nâng cao cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Nam trên thị trờng thế giới, NHTM đã góp phần đa nền kinh tế quốc gia hội
nhập với nền kinh tế thế giới. Đồng thời giải quyết nạn thất nghiệp thông qua
mở rộng và tăng cờng sản xuất, giảm các tệ nạn xã hội. Tăng cờng hợp tác
phân công lao động quốc tế, xoá dần sự chênh lệch về mức sống, về văn hoá
tinh thần, trình độ khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia trên toàn thế giới.
Lịch sử đã chứng minh rằng bất cứ quốc gia nào có hệ thống ngân hàng hoạt
động ổn định và hiệu quả thì quốc gia ấy sẽ có một nền kinh tế phát triển
mạnh mẽ.
3. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng
mại
3.1 Khái niệm về rủi ro
Khi tiến hành bất cứ một công việc gì thì con ngời đều chịu ảnh hởng của
rất nhiều yếu tố từ môi trờng xung quanh, do đó kết quả công việc không
phải chỉ phụ thuộc vào bản thân ngời đó. Những tác động này có thể là tác
động tích cực hoặc tiêu cực, nếu là tích cực, nó sẽ giúp đẩy nhanh tiến trình
công việc, nếu là tiêu cực, nó sẽ cản trở thậm chí phá hoại công việc. Trong
trờng hợp đó, những yếu tố tiêu cực này đợc gọi là những rủi ro.
Có rất nhiều cách hiểu rủi ro khác nhau, có nhiều định nghĩa về rủi ro
của các nhà kinh tế và các nhà kinh doanh, tuy nhiên để thâu tóm một định
nghĩa chuẩn xác thế nào là rủi ro cho mọi môi trờng kinh doanh cũng nh mọi
giai đoạn phát triển lại là một việc khó. Nhng nói chung, rủi ro là những biến
cố xảy ra ngoài ý muốn không dự tính trớc gây ra những thiệt hại cho một
công việc cụ thể nào đó.
9
Chuên đề tốt nghiệp
Rủi ro có thể xảy ra trong bất cứ lĩnh vực nào, hoàn cảnh nào và cũng
có thể đến với bất kỳ ai. Tuy nhiên trong kinh doanh, có thể nói rủi ro là ng-
ời bạn đồng hành. Khi rủi ro xảy ra, hoạt động kinh doanh sẽ gặp những thiệt
hại nhất định, đôi khi là vô cùng lớn. Rủi ro phát sinh muôn mầu muôn vẻ, là
hậu quả của những nhân tố chủ quan và khách quan nhng chủ yếu là rủi ro
khách quan ngoài dự đoán của doanh nghiệp. Rủi ro có thể phát sinh từ các
nguyên nhân nh thiên tai, chiến tranh, năng lực sản xuất yếu kém, do sự thay
đổi trong chính sách nhà nớc Chúng ta không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro ra
khỏi môi trờng kinh doanh mà chỉ có thể nghiên cứu nó, nhận biết nó và
phòng ngừa hạn chế nó đến mức thấp nhất.
Chính bởi vì rủi ro là ngời bạn đồng hành của kinh doanh, bởi vậy mục
tiêu tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc sẽ gặp
nhiều rủi ro hơn.Trong lĩnh vực ngân hàng, rủi ro là một phạm trù tiềm ẩn có
thể xảy ra bất cứ lúc nào làm sai lệch kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
trong đó rủi ro tín dụng là đặc trng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra nhất trong hoạt
động của ngân hàng.
3.2 Các loại rủi ro thờng gặp trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
3.2.1 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu khi
khách hàng không trả hoặc không trả đúng hạn tiền gốc hoặc tiền lãi.
Bởi hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và đem lại nhiều lợi nhuận
nhất cho NHTM, do đó các NHTM đều luôn có khuynh hớng mở rộng cho
vay với các thành phần kinh tế. Chính vì lẽ đó mà rủi ro tín dụng là rủi ro cơ
bản nhất và luôn là mối đe doạ đối với các NHTM. Rủi ro này có thể xảy đến
với bất kỳ ngân hàng nào, với bất kỳ món vay nào và mức độ thiệt hại cũng
khác nhau, nó có thể làm ảnh hởng tới kết quả kinh doanh của ngân hàng,
nặng hơn, nơ có thể khiến ngân hàng đi đến bờ vực của sự phá sản. Do vậy
khi đánh giá hoạt động kinh doanh cũng nh đặt ra những kế hoạch kinh
doanh cho mình, mọi ngân hàng đều cần chú trọng đặc biệt đến dự đoán sự
biến động của thị trờng, khả năng của khách hàng để hạn chế đến mức thấp
10
Chuên đề tốt nghiệp
nhất những rủi ro có thể xảy ra. Đây cũng là biện pháp hứu hiệu đề phòng và
giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do rủi ro tín dụng mang lại.
3.2.2 Rủi ro lãi suất
Trớc hết phải định nghĩa thế nào là lãi suất, đó là chi phí đi vay hay nói
cách khác, nó chính là giá cả của việc tạm thời chuyển quyền sử dụng tiền.
Trong ngân hàng có hai loại lãi suất: lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
Lãi suất huy động là chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra để huy động vốn. Lãi
suất cho vay là lãi suất mà ngời vay phải trả cho việc mợn vốn ngân hàng, lãi
suất này tạo nên thu nhập cho ngân hàng.Trong nền kinh tế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc, lãi suất luôn biến động theo cung cầu thị trờng và nằm
trong khung lãi suất do nhà nớc quy định.
Rủi ro lãi suất mà ngân hàng phải gánh chịu là tổn thất về thu nhập
( lãi) do lãi suất thay đổi ngoài dự kiến của ngân hàng. Chẳng hạn lãi suất
cho vay giảm trong khi lãi suất huy động vẵn giữ nguyên làm giảm thu nhập
cho ngân hàng. Hay nói cách khác, những thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra
làm chi phí cho nguồn vốn cao hơn thu nhập từ sử dụng vốn khiến ngân hàng
bị thiệt hại.
3.2.3 Rủi ro hối đoái
Các rủi ro trong giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các
loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nớc. Hiện
nay ở Việt Nam cha có hình thức mua bán ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái kỳ
hạn nhng hình thức sơ khai của nó hiện nay là các khoản vay có kỳ hạn bằng
ngoại tệ. Ngân hàng quy định rằng: vay bằng ngoại tệ trả bằng ngoại tệ ( trừ
trờng hợp đợc sự dồng ý của ngân hàng). Nếu nhu cầu vốn của nền kinh tế là
ngoại tệ, ngân hàng khi tiến hành cho vay phải thực hiện chuyển đổi từ nội tệ
sang ngoại tệ và khi khoản vay đến hạn, nếu do yêu cầu về việc bảo toàn vốn,
ngân hàng phải sử dụng mức tỷ giá hối đoái hiện thời, sự chênh lệch hoặc
biến đổi giữa hai tỷ giá này có thể gây ra những khoản thặng d hoặc chênh
lệch trong khối lợng tiền ban đầu. Nếu đó là thâm hụt đó chính là rủi ro đối
với ngân hàng.
11
Chuên đề tốt nghiệp
3.2.4 Rủi ro mất khả năng thanh toán
Rủi ro mất khả năng thanh toán xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng đợc
các nhu cầu thanh toán của mình và của khách hàng. Một số nguyên nhân
dẫn đến tình trạng này có thể là do ngân hàng không đủ số vốn cần thiết để
đáp ứng nhu cầu chi trả và thanh toán nh không đáp ứng đủ dự trữ bắt buộc,
không đủ ngân quỹ Mặt khác, cũng có thể vì một lý do nào đó, khách hàng
đến rút tiền ồ ạt làm cho ngân hàng không đủ thanh toán ngay cho khách
hàng.
Do sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính trên thị trờng vốn và thị tr-
ờng tiền tệ, bởi vậy nếu ngân hàng nào kém thì ngân hàng ấy càng khó huy
động đợc nguồn vốn dồi dào, phạm vi ngày càng thu hẹp. Bởi vậy, đứng trớc
nguy cơ xảy ra rủi ro này, ngân hàng sẽ tiến hành nhiều biện pháp để có thể
ngăn chặn đợc nó.
3.2.5 Rủi ro về nguồn vốn
Không phải lúc nào việc huy động vốn cũng đợc tăng cờng, trái lại nó có
thể dẵn đến việc s thừa nguồn vốn. Hậu quả của việc d thừa nguồn vốn sẽ là
thu nhập từ việc sử dụng nguồn vốn không bù đắp nổi chi phí mà ngân hàng
bỏ ra để huy động vốn, làm ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng.
Ngợc lại, thiếu vốn sẽ làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị trì trệ,
khả năng đáp ứng nhu cầu tín dụng bị hạn chế, làm ảnh hởng tới thị phần và
lợi nhuận của ngân hàng. Do vậy, các NHTM cần phải tìm ra cho mình một
cơ cấu nguồn vốn hợp lý nhất nhằm kinh doanh có hiệu quả và lợi nhuận cao.
3.2.6 Các rủi ro khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Đó là các rủi ro nằm trong rủi ro toàn diện của ngân hàng, có thể đó là
rủi ro về thông tin, rủi ro về nhân sự, do thiên tai, rủi ro về thuế (thuế thu
nhập, thuế VAT ) gây ra. Ngoài ra, các chính sách xã hội ảnh hởng đến sinh
hoạt của dân chúng hay các tổ chức kinh tế đều ảnh hởng đến cung cầu tiền
trong ngân hàng. Ví dụ sự thay đổi những quy định bắt buộc của ngân hàng
12
Chuên đề tốt nghiệp
trung ơng về sự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng, chính sách chiết khấu đều
dẫn đến giới hạn các khoản tín dụng đầu t làm mất cơ hội kinh doanh của
ngân hàng.
II. Rủi ro tín dụng và sự cần thiết phải phòng ngừa rủi ro tín
dụng
1. Rủi ro tín dụng và dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng trong
hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Hoạt động sinh lợi chủ yếu của các ngân hàng thơng mại là hoạt động tín
dụng. Đây là hoạt động cơ bản nhất và cũng đem lại nhiều thu nhập nhất cho
NHTM. Trong hoạt động tín dụng, mục tiêu chủ yếu của ngân hàng là tìm
kiếm lợi nhuận trên cơ sở phục vụ các nhu cầu tín dụng cộng đồng, đồng thời
phải đảm bảo sự an toàn vốn, tuy nhiên các khoản cho vay có khả năng sinh
lời cao thì mức độ rủi ro cũng cao.
Trong nền kinh tế thị trờng đầy cạnh tranh và biến động, nhu cầu về vốn
để mở rộng sản xuất, cải tiến trang thiết bị và các nhu cầu khác phục vụ quá
trình sản xuất kinh doanh luôn tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu này, các NHTM
cũng phải luôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, điều đó có nghĩa là rủi
ro tín dụng cũng phát sinh nhiều hơn. Vấn đề là ngân hàng chỉ đợc mở rộng
hoạt động tín dụng trên cơ sở nâng cao chất lợng tín dụng, có nh vậy mới có
thể phòng ngừa rủi ro tín dụng và hạn chế hậu quả của nó đến mức thấp nhất.
1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau mà ta có các cách phân loại rủi ro tín
dụng khác nhau :
Phân loại rủi ro tín dụng theo thời gian của khoản cho vay:
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay ngắn hạn : là rủi ro đối với
các khoản tín dụng có thời gian dới 12 tháng.
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay trung và dài hạn : thông th-
ờng mức độ rủi ro tín dụng ở các khoản cho vay trung và dài hạn th-
13
Chuên đề tốt nghiệp
ờng cao hơn nguy cơ rủi ro tín dụng ở các khoản cho vay ngắn hạn.
Bởi vậy, cho dù lãi suất cho vay có hấp dẫn hơn nhng các NHTM ở
Việt nam hiện nay vẫn hạn chế mở rộng hoạt động tín dụng với loại
cho vay này.
Phân loại rủi ro tín dụng theo đối tợng cho vay:
- Rủi ro tín dụng đỗi với các khoản cho vay tài trợ tài sản lu động : do
vốn lu động có thời gian luân chuyển nhanh nên thờng thờng thời
gian hoàn trả khoản vay cũng nhanh, mức độ rủi ro tín dụng cũng
thấp hơn.
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay tài trợ tài sản cố định : mức
độ rủi ro tín dụng thờng cao vì thời gian cho vay vốn dài, hao mòn
hữu hình và đặc biệt trong thời đại khoa học phát triển thì hao mòn vô
hình của tài sản cố định rất cao.
- Rủi ro tín dụng đỗi với tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu : mức độ rủi ro
ít khá cao trong trờng hợp có chiến tranh, thiên tai xảy ra ảnh hởng
đến thời hạn giao hàng, dẫn đến khách hàng không trả nợ ngân hàng
đúng hạn. Ngoài ra,có thể do thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch
về bạn hàng dẫn đến tình trạng cố tình lừa đảo.
Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân gây ra rủi ro
Thông thờng các ngân hàng phân chia rủi ro tín dụng theo tiêu thức
này.
- Rủi ro tín dụng do nguyên nhân từ ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng do nguyên nhân từ khách hàng.
- Rủi ro tín dụng do các nguyên nhân khác.
Phân loại rủi ro tín dụng theo khách hàng vay:
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay doanh nghiệp Nhà Nớc :
trên thực tế nguy cơ rủi ro khi cho các khách hàng loại này vay thấp
hơn là cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay doanh nghiệp ngoài quốc
doanh : nguy cơ rủi ro cao vì các doanh nghiệp loại này thờng có quy
mô nhỏ, khả năng SXKD hạn chế và tài sản thế chấp cũng nh uy tín
không đảm bảo.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét