Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIA TĂNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM MAY MẶC SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ CỦA CÔNG TY TNHH MTV MAY MẶC BÌNH DƯƠNG

SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
* Ngày nay tồn tại hai loại giao dịch:
− Giao dịch trực tiếp: là giao dịch mà người mua và người bán thoả thuận trực
tiếp.
− Giao dịch gián tiếp: là giao dịch thông qua các trung gian có thể là cá nhân hay
tổ chức.
Tuỳ theo trường hợp cụ thể mà các doanh nghịêp chọn phương thức giao dịch
thích hợp. Trong thực tế hiện nay, giao dịch trực tiếp được áp dụng rộng rãi bởi giảm
được chi phí trung gian, dễ dàng thống nhất, có điều kiện tiếp xúc với thị trường, khách
hàng, chủ động trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
* Ký kết hợp đồng.
Tiếp theo công việc đàm phán, các bên tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu,
trong đó, quy định người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người
mua, còn người mua có nghĩa vụ trả cho người bán một khoản tiền ngang giá trị theo
các phương tiện thanh toán quốc tế.
Ký kết hợp đồng có thể ký kết trực tiếp hay thông qua tài liệu.
Khi ký kết cần chú ý đến vấn đề địa điểm thời gian và tuỳ từng trường hợp mà
chọn hình thức ký kết.
*Thông thường trong một hợp đồng xuất khẩu có những nội dung sau:
a./ Phần mở đầu của hợp đồng xuất khẩu.
− Số hợp đồng
− Ngày và nơi ký kết hợp đồng.
− Tên, và địa chỉ đầy đủ, điện thoại, fax, đại diện của các bên.
b./ Điều kiện tên hàng.
c./ Điều kiện số lượng
d./ Điều kiện về quy cách phẩm chất của hàng hoá.
e./ Điều kiện về giá cả.
f./ Điều kiện về bao bì, đóng gói, ký mã hiệu.
g./ Điều kiện về cơ sở giao hàng.
h./ Điều kiện về thời gian, địa điểm, phương tiện giao hàng.
i./ Điều kiện về thanh toán.
k./ Điều kiện bảo hành (nếu có).
l./ Điều kiện về khiếu nại và trọng tài.
m./ Điều kiện về các trường hợp bất khả kháng.
n./ Chữ ký của các bên.
Với những hợp đồng phức tạp, nhiều mặt hàng thì có thể thêm các phụ lục hợp
đồng là bộ phận không tách rời của hợp đồng.
1.1.6 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng may mặc
Sau khi đã ký kết hợp đồng hai bên thực hiện những gì mình đã cam kết trong hợp
đồng. Với tư cách là nhà xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ thực hiện những công việc sau:
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 5
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
SƠ ĐỒ 1.1: Trình tự các bước thực hiện một hợp đồng ngoại thương
Đây là trình tự những công việc chung nhất cần thiết để thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Tuy nhiên trên thực tế tuỳ theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng mà người thực
hiện hợp đồng có thể bỏ qua một hoặc một vài công đoạn
*Mở L/C và kiểm tra L/C đó
Trong hoạt động buôn bán quốc tế hiện nay, việc sử dụng L/C đã trở thành phổ
biến hơn cả, do lợi ích của nó mang lại. Sau khi người nhập khẩu mở L/C, người xuất
khẩu phải kiểm tra cẩn thận chi tiết các điều kiện trong L/C xem có phù hợp với những
điều kiện của hợp đồng hay không. Nếu không phù hợp hoặc có sai sót thì cần phải
thông báo cho người nhập khẩu biết để sửa chữa kịp thời.
* Xin giấy phép xuất khẩu.
Trong một số trường hợp, mặt hàng xuất khẩu thuộc danh mục nhà nước quản lý,
doanh nghiệp cần phải tiến hành xin giấy phép xuất khẩu do phòng cấp giấy phép xuất
khẩu của Bộ thương mại quản lý.
* Chuẩn bị hàng xuất khẩu.
Đối với những doanh nghiệp, sau khi thu mua nguyên phụ liệu sản xuất ra sản
phẩm, cần phải lựa chọn, kiểm tra, đóng gói bao bì hàng hoá xuất khẩu, kẻ ký mã hiệu
sao cho phù hợp với hợp đồng đã ký và phù hợp với luật pháp của nước nhập khẩu.
* Kiểm định hàng hoá.
Trước khi xuất khẩu, các nhà xuất khẩu phải có nghĩa vụ kiểm tra số lượng, trọng
lượng của hàng hoá. Việc kiểm tra được tiến hành ở hai cấp: cơ sở và ở cửa khẩu nhằm
bảo đảm quyền lợi cho khách hàng và uy tín của nhà sản xuất.
* Thuê phương tiện vận chuyển.
Doanh nghiệp xuất khẩu có thể tự thuê phương tiện vận chuyển hoặc uỷ thác cho
một công ty uỷ thác thuê tàu. Điều này phụ thuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng trong
hợp đồng.
Cơ sở pháp lý điều tiết mối quan hệ giữa các bên uỷ thác thuê tàu với bên nhận
uỷ thác là hợp đồng uỷ thác thuê tàu. Có hai loại hợp đồng uỷ thác thuê tàu: Hợp đồng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 6
Mở L/C và
kiểm tra L/C
Mở L/C và
kiểm tra L/C
Xin giấy phép
xuất khẩu
Xin giấy phép
xuất khẩu
Chuẩn bị hàng
hoá xuất khẩu
Chuẩn bị hàng
hoá xuất khẩu
Kiểm tra hàng
hoá
Kiểm tra hàng
hoá
Uỷ thác
thuê tàu
Uỷ thác
thuê tàu
Mua bảo hiểm
hàng hoá
Mua bảo hiểm
hàng hoá
Làm thủ tục
hải quan
Làm thủ tục
hải quan
Giao hàng lên
tàu
Giao hàng lên
tàu
Làm thủ tục
thanh toán
Làm thủ tục
thanh toán
Giải quyết
tranh chấp (nếu
có)
Giải quyết
tranh chấp (nếu
có)
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
uỷ thác thuê tàu cả năm và Hợp đồng thuê tàu chuyến. Nhà xuất khẩu căn cứ vào đặc
điểm của hàng hoá để lựa chọn hợp đồng thuê tàu cho thích hợp.
* Mua bảo hiểm hàng hoá.
Hàng hoá trong buôn bán quốc tế thường xuyên được chuyên chở bằng đường
biển, điều này thường gặp rất nhiều rủi ro, do đó cần phải mua bảo hiểm cho hàng hoá.
Công việc này cần được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm. Có hai loại hợp đồng
bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm bao và Hợp đồng bảo hiểm chuyến. Khi mua bảo hiểm
cần lưu ý những điều kiện bảo hiểm và lựa chọn công ty bảo hiểm.
* Làm thủ tục hải quan.
Hàng hoá khi vượt qua biên giới quốc gia để xuất khẩu đều phải làm thủ tục hải
quan. Việc làm thủ tục hải quan gồm ba bước chủ yếu sau:
− Khai báo hải quan: Doanh nghiệp khai báo tất cả các đặc điểm hàng hoá về số
lượng, chất lượng, giá trị, tên phương tiện vận chuyển, nước nhập khẩu. Các
chứng từ cần thiết, phải xuất trình kèm theo là: Giấy phép xuất khẩu, phiếu
đóng gói, bảng kê chi tiết
− Xuất trình hàng hoá.
− Thực hiện các quyết định của hải quan.
* Giao hàng lên tàu.
Trong bước này doanh nghiệp cần tiến hành các công việc sau:
− Lập bản đăng ký hàng chuyên chở.
− Xuất trình bản đăng ký cho người vận tải để lấy hồ sơ xếp hàng .
− Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng.
− Bố trí phương tiện vận tải đưa hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu.
− Lấy biên lai thuyền phó, sau đó đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đường biển
hoàn hảo và chuyển nhượng được, sau đó lập bộ chứng từ thanh toán.
* Thanh toán.
Thanh toán là bước cuối cùng của việc thực hiện hợp đồng nếu không có sự tranh
chấp, khiếu nại. Trong buôn bán quốc tế, có rất nhiều phương thức thanh toán khác
nhau.
− Phương thức chuyển tiền.
− Phương thức thanh toán mở tài khoản.
− Phương thức thanh toán nhờ thu.
− Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Đối với nhà xuất khẩu, về phương tiện thanh toán cần phải xem xét những vấn đề
sau:
− Người bán muốn bảo đảm rằng, người mua có các phương tiện tài chính để trả
tiền mua hàng theo đúng hợp đồng đã ký.
− Người bán muốn việc thanh toán được thực hiện đúng hạn.
Trên bình diện quốc tế, hai phương tiện thanh toán là nhờ thu (D/P và D/A) và
thư tín dụng (chủ yếu là L/C không hủy ngang) được áp dụng phổ biến hơn cả. Đến
đây nếu không có sự tranh chấp và khiếu lại, một thương vụ xuất khẩu coi như đã kết
thúc và doanh nghiệp lại tiến hành một thương vụ mới.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 7
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
1.1.7 Đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng may mặc
1.1.7.1 Chỉ tiêu phản ánh kết quả định lượng.
A.Lợi nhuận:
Là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp kết quả từng hợp đồng xuất khẩu, là chỉ tiêu phản
ánh cuối cùng và quan trọng nhất. lợi nhuận là số tiền có được của hợp đồng sau khi
trừ đi toàn bộ chi phí liên quan đến việc thực hiện hợp đồng đó.
− Công thức tính lợi nhuận.
P=TR-TC
− Trong đó: P: là lợi nhuận
TR:là tổng doanh thu
TC:là tổng chi phí
B.Tỷ suất lợi nhuận:
Là chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ lệ phần trăm (%) của lợi nhuận trên tổng doanh
thu.
− Công thức tính:
P’=P/TR*100
C.Hệ số sinh lời của chi phí
− Công thức tính:
P’’=P/TC*100
Chỉ tiêu P’’ nói lên rằng tỷ lệ phần trăm lãi so với tồng chi phí của doanh nghiệp
sau khi thực hiện hợp đồng, hay khả năng sinh lời của một đồng chi phí, ngoài ra chỉ
tiêu này còn có thể so sánh với tỷ suất lãi của ngân hàng hay một tiêu chuẩn nào đó.
D.Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu:
Là tỷ lệ giữa tổng chi phí bằng nội tệ trên doanh thu tính bằng ngoại tệ, chỉ tiêu
này đem so sánh với tỷ giá hối đối của ngân hàng , nếu chỉ tiêu trên bé hơn tỷ giá thì
đường lối thực hiên kinh doanh xuất khẩu có hiệu quả và ngược lại
− Công thức tính:
Tỷ suất ngoại xuất khẩu = Chi phí (VNĐ) /Doanh thu (USD)
1.1.7.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả định tính:
Hợp đồng xuất khẩu cũng giống như những hợp đồng kinh doanh khác, doanh
nghiệp không chỉ nhằm vào mục tiêu lợi nhuận mà còn nhiều mục tiêu khác: mở rộng
thị trường, định vị sản phẩm, cạnh tranh…
Có nhiều doanh nghiệp chịu lỗ để đạt được mục tiêu về cạnh tranh, khả năng
thâm nhập và mở rộng thị trường, kết quả của những nổ lực này thể hiện ở thị trường
xuất khẩu hiện có của doanh nghiệp, khả năng mang sản phẩm sang các thị trường
khác, mối quan hệ với khách hàng được mở rộng đến đâu, khả năng khai thác được
thực hiện ở các thị trường như thế nào…
Hiện nay vấn đề thị trường và khách hàng là hết sức khó khăn nó trở thành mục
tiêu không kém phần quan trọng. Uy tín của doanh nghiệp trên thương trường cũng cần
phải xác định : Sản phẩm của mình có được khách hàng lòng như mong đợi? Sản phẩm
có được nhiều người biết dến không ? Vì thế cần giữ uy tín trong quan hệ làm ăn
buôn bán không vi phạm hợp đồng.
1.2 Nghiên cứu thị trường may mặc tại Mỹ
Vị trí địa lý: Hoa Kỳ nằm ở Bắc Mỹ, phía đông là Bắc Đại tây dương, phía tây
là Bắc Thái bình dương, phía bắc tiếp giáp với Canada, và phía nam tiếp giáp với
Mêxicô.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 8
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
Tổng diện tích: 9.629.091 km
2
chiếm 6,2% diện tích toàn cầu, trong đó diện
tích đất đai là 9.158.960 Km
2
và diện tích mặt nước là 470.131 km
2
. Diện tích Hoa Kỳ
bằng nửa Nga; bằng khoảng 3/10 Châu Phi; bằng khoảng nửa Nam Mỹ; rộng hơn
Trung Quốc không đáng kể; và lớn hơn Tây Âu khoảng 2,5 lần.
1.2.1 Nhu cầu sản xuất - nhập khẩu - tiêu thụ hàng may mặc tại Mỹ
Thị trường Hoa Kỳ là một thị trường sản xuất và tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất
thế giới hiện nay. Ngành dệt may của Hoa Kỳ đứng thứ 10 trong các ngành công
nghiệp và đứng thứ 2 trong các ngành sản xuất hàng hóa có thời hạn sử dụng không
dài. Công nghiệp dệt của Hoa Kỳ luôn gắn với thị trường sản phẩm dệt và quần áo may
sẳn của thế giới. Mặt khác, Hoa Kỳ cũng là nhà nhập khẩu lớn nhất về hàng dệt và
quần áo.
Hàng may mặc của Hoa Kỳ chủ yếu là các sản phẩm cao cấp, giá cao được nhập
khẩu từ các nước phát triển hoặc một phần là nguyên phụ liệu, bán thành phẩm xuất đi
các nước khác để gia công lắp ráp thành sản phẩm để tái xuất lại vào Hoa Kỳ hoặc xuất
khẩu đi các nước thứ ba.
Hiện Hoa Kỳ có khoảng 15.000 công ty sản xuất hàng may mặc, với tổng
doanh thu hàng năm 30 tỷ USD. Ngoài tập đoàn VF, Levi Strauss và Warnaco, đa số
các công ty lớn trong ngành đạt doanh thu hàng năm dưới 1 tỷ USD. Chỉ một số nhà
máy trong ngành có 500 lao động và doanh thu hàng năm đạt 50 triệu USD, còn lại
phần lớn là các nhà máy dưới 50 lao động và doanh thu hàng năm dưới 5 triệu USD.
Các công ty lớn của Hoa Kỳ chủ yếu chuyên sâu vào các dòng sản phẩm chất lượng
cao, trong khi đó các công ty vừa và nhỏ lại thành công với những sản phẩm dệt may
hàng loạt. Mặc dù ngày càng “tự động hoá” trong sản xuất nhưng số lượng lao động sử
dụng trong ngành dệt may của Hoa Kỳ vẫn rất lớn với thu nhập hàng năm khoảng gần
170.000 USD.
Mức cầu được quyết định chủ yếu bởi thị hiếu người tiêu dùng, chi phí sản xuất
cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và nước ngoài. Lợi nhuận của các công ty riêng lẻ dựa vào
hiệu quả hoạt động và khối lượng sản xuất. Các công ty nhỏ có thể cạnh tranh hiệu quả
với các công ty lớn bằng cách chuyên sản xuất một dạng sản phẩm may mặc riêng biệt.
Do các kỹ năng và thiết bị cần để sản xuất các loại quần áo khác nhau, các nhà
sản xuất luôn chuyên vào một loại sản phẩm. Theo thương vụ Hoa Kỳ, các phân khúc
sản phẩm may mặc lớn nhất là quần nam (20% doanh thu ngành), váy và quần nữ
(15%), áo trùm đầu của nữ (15%), áo trùm đầu của nam (12%) và áo đầm (10%). Các
nguyên liệu chính được sử dụng trong ngành sản xuất vải sợi của Hoa Kỳ là len, bông
(cotton) và sợi nhựa tổng hợp. Vải chiếm 40% doanh thu của ngành sản xuất dệt may
Hoa Kỳ, chỉ sợi chiếm 20%, các loại thảm chiếm 20%, và chăn màn, rèm cửa chiếm
20%.
Với những mặt hàng chính như quần áo may sẵn, hàng thêu ren, trang trí và vải
sợi theo báo cáo của Cơ quan Thống kê của Mỹ công bố trong tháng 7/2011, kim
ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹ đạt 652,42 triệu USD. Trong thời gian
qua, Mỹ tiếp tục duy trì là thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam, chiếm
đến 51% thị phần xuất khẩu. Việt Nam là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 sau thị trường
Trung Quốc xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ
1.2.2 Hệ thống các nhà sản xuất và phân phối hàng may mặc tại Mỹ
Tại Hoa Kỳ có nhiều loại công ty lớn, vừa và nhỏ với các kênh thị trường khác
nhau. Các công ty lớn thường có hệ thống phân phối riêng và họ tự làm lấy tất cả các
khâu từ nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phối và tự nhập khẩu. Các tập đoàn và
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 9
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
công ty lớn có tác động mạnh đến các chính sách của Chính phủ, còn các công ty vừa
và nhỏ vận động xung quanh hệ thống thị trường và được Chính phủ hỗ trợ.
Đối với loại công ty vừa và nhỏ họ có nhiều cách bán hàng nhập khẩu tại Mỹ.
Họ thường nhập khẩu hàng hoá về để bán tại Mỹ theo các cách phổ biến sau đây:
1) Bán sỉ cho các cửa hàng bán lẻ;
2) Bán cho nhà phân phối;
3) Bán trực tiếp cho các nhà công nghiệp;
4) Bán sỉ qua đường bưu điện;
5) Bán lẻ qua đường bưu điện;
6) Có một số nhà nhập khẩu bán hàng theo catalog qua các nhà buôn hay trực
tiếp lập ra công ty để bán hàng theo catalog;
7) Bán lẻ;
8) Bán hàng qua các cuộc trưng bày hàng hoá trên các kênh truyền hình;
9) Bán hàng trực tiếp cho các nhà máy công xưởng ;
10) Làm đại lý bán hàng;
11) Bán hàng qua “buổi tiệc giới thiệu bán hàng” (Bali Imports Party);
12) Bán ở chợ ngoài trời (Flea Market);
13) Bán hàng qua các hội chợ, triển lãm;
14) Bán hàng qua hệ thống Internet như dạng Amazon.com;
15) Bán hàng cho các nguồn trung gian đặt hàng (sourcing person).
Người Mỹ hay làm nghề trung gian đi đặt hàng cho các tập đoàn hay các công
ty lớn để nhập khẩu hàng hoá vào Hoa Kỳ. Họ đến tiếp xúc ta và đặt mua hàng hoá.
Cách tiếp cận thị trường qua trung gian loại này có một số điểm lợi cho ta, chính họ
mang hàng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nhanh chóng, ta không cần xây dựng hệ
thống phân phối sản phẩm tốn kém và khó khăn mà sản phẩm của ta vẫn tham gia vào
thị trường Mỹ.
1.2.3 Xu hướng tiêu dùng hàng may mặc trên thị trường Mỹ.
Dân số Hoa Kỳ hiện có khoảng 65% trong tổng số 305 triệu người tiêu dùng
hàng may mặc quay trở lại với các sản phẩm dệt may bình dân, các chuỗi cửa hàng
chuyên doanh như “Gap” đã tăng doanh thu nhờ chiến lược tập trung vào các mặt hàng
thời trang thông dụng cho các đối tượng tiêu dùng từ 20 – 30 tuổi. Nhiều nhà bán lẻ
cũng áp dụng chiến lược tập trung cho một số nhóm đối tượng tiêu dùng riêng biệt như
hàng thời trang “cấp tiến” hay các đối tượng tiêu dùng trẻ. Hiện chi tiêu cho hàng may
mặc của nhóm trẻ vị thành niên chiếm tới 20% tổng mức chi tiêu cho hàng may mặc
của Hoa Kỳ.
Thị trường hàng Dệt may Hoa Kỳ được chia thành: ''bình dân''', ''trung'' và hàng
“cao cấp”.Trong nhóm hàng "bình dân" phải kể đến nhóm hàng giá rẻ được bán trong
các cửa hàng hạ giá (discounters), với nhãn mác riêng của cửa hàng bên cạnh một số
sản phẩm thương hiệu riêng (không nổi tiếng) với giá rất hạ. Hai nhóm hàng còn lại,
hàng trung và cao cấp chủ yếu được bán trong các cửa hiệu sang trọng (đôi khi cũng
được bán trong quầy hàng của các trung tâm thương mại) là các mặt hàng giá cao đi
đôi với chất lượng; Một số đại siêu thị có quầy hàng may mặc cũng kinh doanh hàng
hoá và vật liệu với trữ lượng tương đối lớn.
Thị trường bán lẻ hàng may mặc của Hoa Kỳ có xu hướng “phân mảng” khá rõ
nét. 5 nhà bán lẻ lớn nhất chiếm tới 28,1% tổng dung lượng thị trường, trong đó Gap
chiếm 12,1%; TJX (Marshall’s, TJ Max, A.J.Wright) chiếm 7,4%; Limited Brands
(Limited, Express, Victoria’s Secret) chiếm 4,2%; Burlington chiếm 2,7% và Charming
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 10
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
Shoppes (Lane Bryant, Fashion Bug, Catherine’s), chiếm 2%.Bên cạnh các kênh phân
phối truyền thống, bán hàng qua mạng Internet đang có xu hướng tăng nhanh trong
những năm gần đây.
1.2.4 Chính sách nhập khẩu sản phẩm dệt may của Mỹ
Dệt may luôn là một mặt hàng có vị trí quan trọng trong chính sách thương mại
của Hoa Kỳ và thực tế này trong thời gian trước mắt vẫn sẽ không thay đổi. Dưới góc
độ quan hệ thương mại quốc tế, có thể thấy chính sách hàng dệt may của Hoa Kỳ mang
bóng dáng 2 chiến lược chủ đạo:
− Kềm chế các nước xuất khẩu thông qua các hiệp định dệt may song phương hay
các thỏa thuận khống chế số lượng. Trước 01/01/2005, Hoa Kỳ đã sử dụng biện
pháp này với nhiều nước tại các nhóm hàng khác nhau. sau thời điểm 01/01/2005
ưu thế trên thị trường hàng dệt may nhập khẩu Hoa Kỳ đã thuộc về các quốc gia
châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Hàn Quốc, các nước
ASEAN và thị phần của ngành sản xuất dệt may nội địa Hoa Kỳ luôn trên đà thu
hẹp. Để bảo hộ sản xuất trong nước, Hoa Kỳ luôn mong muốn áp đặt khống chế
số lượng lên càng nhiều mã hàng (cat) với càng nhiều nước càng tốt. Tuy vậy, chủ
trương này chỉ mang tính ngắn hạn, sớm muộn thì việc hạn chế khối lượng nhập
khẩu theo lối “cơ học” như vậy cũng sẽ lỗi thời và không sử dụng được nữa.
− Hoa Kỳ sử dụng những ưu đãi về hàng dệt may để mặc cả trong các thỏa thuận ưu
đãi thương mại, các Hiệp định thương mại tự do song phương hoặc khu vực. Về
bản chất, Hoa Kỳ chủ trương liên minh với các quốc gia trong khu vực châu Mỹ
thông qua các chương trình ưu đãi thương mại (NAFTA, DR-CAFTA, FTAA )
và một số đối tác khác ngoài châu Mỹ qua các FTA (Australia, Baranh, Chi-lê,
Jordani, Israel, Marốc, Singapore ) trong đó có các ưu đãi đối với hàng dệt
may. Với chủ trương này, Hoa Kỳ mong muốn kềm chế xuất khẩu dệt may từ các
nước châu Á và các nước mà Hoa Kỳ không có nhiều lợi ích trong thương mại
song phương. Tính toán của họ là thay vì phải trực tiếp chống chọi với tất cả các
nước xuất khẩu dệt may trên thế giới (đặc biệt là Trung Quốc và các nước Châu
Á), thì Hoa Kỳ chỉ cần mặc cả với các nước “lệ thuộc” và các đồng minh chiến
lược của họ. Ưu đãi của Hoa Kỳ đối với sản phẩm dệt may từ các nước này sẽ
được đổi lại bằng ưu đãi của các nước đối với những sản phẩm xuất khẩu sở
trường của Hoa Kỳ. Tuy thất bại trong việc bảo hộ sản xuất trong nước, song
chính sách đối với hàng dệt may nhập khẩu vẫn là một trong những phương tiện
hữu hiệu của Hoa Kỳ trong đàm phán thương mại, đặc biệt là với những nước
đang phát triển. Dệt may kể từ khi không còn là một sản phẩm hàng hóa đem lại
công ăn việc làm và mang lại lợi nhuận trực tiếp cho nền kinh tế đã được sử dụng
như một món hời để Hoa Kỳ trao đổi trong thương mại quốc tế.
Điều tiết hàng dệt may nhập khẩu thông qua tác động tới lượng và giá
− Bảo hộ sản xuất nội địa để giữ được công ăn việc làm và ổn định một bộ phận xã
hội luôn nằm trong những mục tiêu hàng đầu của chính quyền Hoa Kỳ qua các
thời kỳ, theo đó kiểm soát nhập khẩu nhằm điều tiết nguồn cung trên thị trường là
biện pháp có ảnh hưởng lớn tới phát triển sản xuất trong nước, bất kể ngành nào.
− Tìm hiểu quá trình vận động các chính sách của Hoa Kỳ đối với hàng dệt may
từ góc độ quản lý nhập khẩu, có thể thấy: Cho tới trước 01/01/2005, thời điểm
hạn ngạch được bãi bỏ đối với tất cả các nước thành viên của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), Hoa Kỳ có tới 46 Hiệp định khác nhau về hàng dệt may theo
tinh thần của Hiệp định về Hàng dệt và May mặc(Agreement on Textiles and
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 11
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
Clothing - ATC) của WTO. Các Hiệp định này điều tiết nhập khẩu thông qua việc
trực tiếp khống chế lượng hàng dệt và may mặc mà các đối tác thương mại của
Hoa Kỳ có thể xuất vào thị trường này hàng năm. Sau thời điểm 01/01/2005, các
quy định của Hoa Kỳ ảnh hưởng tới xuất khẩu dệt may vào Hoa Kỳ chỉ còn là các
điều khoản liên quan tới hàng dệt may trong các Hiệp định Thương mại Tự do
(FTA) song phương và khu vực, hay một số “sáng kiến thương mại” (về bản chất
vẫn là một dạng hiệp định thương mại tự do) mà Hoa Kỳ ký với các đối tác như
các FTA với Chi-lê, Singapore, Israel, Jordani; Hiệp định Thương mại Tự do Bắc
Mỹ (NAFTA); Luật Phát triển và Cơ hội châu Phi (AGOA); Luật Ưu đãi Thương
mại Vùng vịnh Caribê (CBTPA). Các thỏa thuận và hiệp định này cho phép hàng
dệt và may mặc của các nước khác tiếp cận thị trường Hoa Kỳ với những ưu đãi
nếu thỏa mãn các điều kiện nhất định. Do vậy, mặc dù không còn bị khống chế
bởi hạn ngạch sau 01/01/2005, phần lớn các nước thành viên WTO vẫn phải trả
thuế nhập khẩu cho hàng dệt may vào Hoa Kỳ nếu không thuộc diện được ưu đãi
theo các hiệp định và luật kể trên. Biểu thuế của Hoa Kỳ có các cột khác nhau biểu
thị mức độ ưu đãi khác nhau tùy theo quan hệ thương mại với nước xuất khẩu. Giá
các sản phẩm dệt may nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ vì thế sẽ có sự chênh lệch
bởi sự khác biệt về nguồn gốc xuất xứ. Hoa Kỳ đã chuyển hướng chính sách sang
gián tiếp điều tiết nhập khẩu bằng cách gây ảnh hưởng tới giá hàng dệt may của
các nước xuất khẩu.
Điều tiết nhập khẩu qua tác động tới lượng và giá là hai đặc điểm chính dễ nhận thấy
nhất trong chính sách của Hoa Kỳ. Chúng được thay đổi để áp dụng phù hợp với từng
giai đoạn của quá trình phát triển thương mại hàng dệt và may mặc toàn cầu (lấy mốc
là thời điểm 01/01/2005) và xu thế phân công lao động quốc tế.
1.2.4.1 Quy định về thuế quan
Biểu thuế nhập khẩu (hay còn gọi là biểu thuế quan) HTS hiện hành của Hoa Kỳ
được ban hành trong Luật Thương mại và Cạnh tranh Omnibus năm 1988 và có hiệu
lực từ 01/01/1989. Hệ thống thuế quan (thuế nhập khẩu) của Hoa Kỳ được xây dựng
trên cơ sở hệ thống hài hòa thuế quan (gọi tắt là HS) của Hội đồng Hợp tác Hải quan,
một tổ chức liên chính phủ có trụ sở tại Bruxen. Mức thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ có
thể thay đổi và được công bố hàng năm.
Trong biểu thuế nhập khẩu của mỹ được tính theo 1 trong 3 phương pháp sau:
1) Thuế theo trị giá: Hầu hết các loại thuế quan của Hoa Kỳ được đánh theo tỷ
lệ trên giá trị, tức là bằng một tỷ lệ phần trăm trị giá giao dịch của hàng hoá nhập
khẩu.
2) Thuế theo đặc tính: Là một loại thuế cụ thể đánh vào một hàng hoá cụ thể
3) Thuế suất phối hợp: Là mức thuế áp dụng cho cả hai phương pháp tính thuế
trên
Các mức thuế :
− Mức thuế tối huệ quốc (MFN): hay còn gọi là mức thuế dành cho các nước có
quan hệ thương mại bình thường (NTR), được áp dụng với những nước thành
viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và những nước tuy chưa phải là thành
viên WTO nhưng đã ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ. Mức
thuế tối huệ quốc (MFN) nằm trong phạm vi từ dưới 1% đến gần 40%, trong đó
hầu hết các mặt hàng chịu mức thuế từ 2% đến 7%. Hàng dệt may và giày dép
thường chịu mức thuế cao hơn. Mức thuế MFN theo giá trị nói chung bình quân
khoảng 4%.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 12
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
− Mức thuế phi tối huệ quốc (Non-MFN) : được áp dụng đối với những nước
chưa phải là thành viên WTO và chưa ký hiệp định thương mại song phương
với Hoa Kỳ như Lào, Cuba, Bắc Triều Tiên. Thuế suất Non-MFN nằm trong
khoảng từ 20% đến 110%, cao hơn nhiều lần so với thuế suất MFN.
1.2.4.2 Những quy định về hạn ngạch và visa
Nói chung, Hoa Kỳ không có giới hạn về hạn ngạch trừ phi trong một hiệp định
hàng dệt may có quy định. Tuy nhiên, luật thương mại Hoa Kỳ cho phép Chính phủ
Hoa Kỳ đơn phương áp đặt các hạn ngạch mang tính hành chính đối với các loại hàng
dệt may. Có 2 loại hạn ngạch là hạn ngạch tuyệt đối và hạn ngạch tính theo thuế suất:
− Hạn ngạch tuyệt đối: là hạn ngạch hạn chế về số lượng. Một số hạn ngạch
tuyệt đối được áp dụng trên toàn thế giới, còn một số chỉ áp dụng đối với một
vài quốc gia nào đó. Số hàng nhập khẩu nào dư ra so với hạn ngạch sẽ bị giữ lại
tại một "Khu ngoại thương" để bổ sung cho kỳ hạn ngạch sau đó hoặc được đưa
vào kho ngoại quan hoặc cũng có thể bị trả về hoặc tiêu hủy dưới sự giám sát
của nhân viên hải quan. Các hiệp định về hàng dệt có quy định gia tăng các hạn
ngạch theo từng thời điểm cụ thể.
− Hạn ngạch suất thuế: áp dụng cho một lượng hàng nhập khẩu được đã quy
định trước, lượng hàng này sẽ chịu một mức thuế thấp trong một thời hạn nào
đó. Trong suốt thời hạn này, nếu hàng nhập khẩu vượt quá số lượng được phép
hưởng mức thuế thấp thì số hàng dư sẽ phải chịu mức thuế cao hơn.
Visa dệt may là một ký hậu (endorsement) dưới dạng một tem/dấu (stamp) do một
chính phủ nước ngoài đóng trên hoá đơn hoặc trên giấy phép xuất khẩu. Visa được
dùng để kiểm soát nhập khẩu các sản phẩm dệt may vào Mỹ và ngăn cấm nhập khẩu
hàng hoá trái phép vào Mỹ. Visa có thể dùng cho mặt hàng cần quota hoặc không cần
quota. Ngược lại mặt hàng cần quota có thể cần hoặc không cần visa, tùy theo nước
xuất xứ.hiện nay đang áp dụng ELVIS (electronic transmission of visa information):
visa điện tử đối với hàng dệt may từ một nước nào đó nhập vào Hoa Kỳ.
Tuy nhiên có Visa không có nghĩa là hàng chắc chắn được làm thủ tục nhập vào
Hoa Kỳ. Nếu hạn ngạch bị hết hạn (close) trong thời gian vận chuyển (tức là giữa thời
gian sau khi hàng đã được đóng dấu Visa ở nước xuất khẩu và thời gian hàng đến Hoa
Kỳ), thì người nhập khẩu ở Hoa Kỳ cũng không được làm thủ tục nhận hàng cho đến
khi hạn ngạch được bổ sung hoặc gia hạn lại. Nhìn chung hàng may mặc xuất khẩu của
Việt Nam cần phù hợp quy chế hạn ngạch và visa nhập khẩu theo hiệp định Đa Sợi
(Multi-Fibber Arangements) do Bộ Thương mại (DOC) quản lý.
1.2.4.3 Quy định về xuất xứ hàng dệt may
Theo vụ Châu Mỹ (Bộ Thương mại) cho biết, Cơ quan Hải quan và Bảo vệ biên
giới Mỹ mới ra một quy định tạm thời về việc khai báo xuất xứ hàng dệt may. Theo đó
sẽ huỷ bỏ quy định cũ về khai báo (19 CFR 102.130) đối với tất cả hàng dệt và may mà
thay vào đó, các nhà nhập khẩu phải khai báo mã số của nhà sản xuất (Manufacturer
Identification Code - MID). Với việc loại bỏ tờ khai hàng dệt, quy định mới này (tên
văn bản 19 CFR 102) đã được sửa đổi và nêu ra những yêu cầu về xuất xứ đồng thời
hướng dẫn cách thức xây dựng mã code của nhà sản xuất.
Hải quan Mỹ cho biết, nhà nhập khẩu (hoặc môi giới hải quan) là người sẽ xác
định MID dựa trên những thông tin về công ty, điền vào các form khai hải quan khi
làm thủ tục nhập khẩu. Trường hợp cơ quan Hải quan tại một cảng nào bất kỳ thấy
nghi ngờ về khai báo MID không đúng, cảng có thể yêu cầu sửa chữa thông tin sau khi
hàng đã qua cửa khẩu. Những lỗi lặp lại về việc xác định MID khi nhập khẩu hàng dệt
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 13
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
may sẽ đưa đến việc đánh giá mức phạt đối với nhà nhập khẩu hay môi giới hải quan
do không lưu tâm đúng mức.
1.2.4.4 Quy định về nhãn hiệu thương mại ở Mỹ.
Quy định về nhãn hàng hoá chủ yếu theo luật Xác định Sản phẩm Sợi dệt
(Textile Fiber Products Identification Act – TFPI) và luật về Nhãn Sản phẩm len (Wool
Products Labeling Act – WPL). Trừ một số trường hợp ngoại lệ, tất cả các sản phẩm
sợi, dệt khi nhập vào Hoa Kỳ đều phải được đóng dấu, niêm phong kín và ghi nhãn,
hoặc được ghi những thông tin sau
− Tên riêng các loại sợi và tỉ lệ phần trăm trọng lượng của các chất sợi có trong
sản phẩm (không kể các chất trang trí) có trọng lượng từ 5% trở lên được ưu
tiên ghi trước, sau đó tỉ lệ phần trăm của các loại sợi được qui định là “các loại
sợi khác” sẽ được ghi cuối cùng. Các loại sợi có tỉ lệ trọng lượng 5% hoặc thấp
hơn được xem là "các loại sợi khác";
− Tên của nhà sản xuất hoặc tên hay số đăng ký “chứng minh” của một hay nhiều
người phụ trách tiếp thị hoặc điều hành sản phẩm sợi dệt. Số đăng ký “chứng
minh” này do Ủy Ban Thương Mại Liên Bang Hoa Kỳ (US Federal Trade
Commission) cấp. Một thương hiệu viết bằng chữ, đã đăng ký với cơ quan bản
quyền Hoa Kỳ có thể được ghi trên nhãn hàng hoá thay cho tên nếu chủ thương
hiệu đó nộp một bản sao đăng ký (thương hiệu) cho Ủy Ban Thương Mại Liên
Bang Hoa Kỳ trước khi sử dụng;
− Tên của quốc gia, nơi sản phẩm đã được gia công hoặc sản xuất. Để thực hiện
Luật Xác định Sản phẩm Sợi dệt, ngoài các thông tin quy định, các thông tin sau
phải được ghi trên một hoá đơn thương mại của chuyến hàng sợi, dệt có giá trị
trên 500 USD và hàng đó phải theo các quy định về nhãn hàng hoá của Luật
Xác định Sản phẩm Sợi dệt.
1.2.4.5 Quy định về chống bán phá giá, trợ giá của Mỹ.
Luật thuế chống phá giá được sử dụng rộng rãi hơn luật thuế chống trợ giá.
Thuế chống phá giá được áp dụng đối với hàng nhập khẩu khi nó được xác định là
hàng nước ngoài được bán “phá giá” vào Hoa Kỳ, hoặc sẽ bán phá giá ở Hoa Kỳ với
giá “thấp hơn giá trị thông thường”. Thấp hơn giá trị thông thường có nghĩa là giá xuất
khẩu vào Hoa Kỳ thấp hơn giá bán của hàng hóa đó ở nước xuất xứ hoặc ở nước thứ 3
thay thế thích hợp.
Mục đích của thuế chống trợ giá là triệt tiêu lợi thế cạnh tranh không bình đẳng
của những sản phẩm nước ngoài được chính phủ nước ngoài trợ giá xuất khẩu vào Hoa
Kỳ. Do vậy, mức thuế chống trợ giá được áp đặt bằng với mức trợ giá. Luật của Hoa
Kỳ cũng như qui định của WTO cho phép một số loại trợ cấp được miễn trừ áp dụng
luật chống trợ giá như một số trợ cấp nghiên cứu và phát triển, một số trợ cấp cho
những vùng khó khăn, một số trợ cấp bảo vệ môi trường WTO gọi những loại trợ cấp
được phép này là “trợ cấp đèn xanh”.
Thuế chống phá giá, trợ giá được áp dụng khi có đủ hai điều kiện
(1) DOC phải xác định hàng nước ngoài đang được bán phá giá hoặc có thể sẽ
được bán phá giá ở thị trường Hoa Kỳ.
(2) USITC phải xác định hàng nhập khẩu được bán phá giá đang gây thiệt hại
vật chất hoặc đe dọa gây thiệt hại vật chất hoặc ngăn cản hình thành ngành công
nghiệp tương tự tại Hoa Kỳ.
Việc điều tra theo luật chống phá giá, trợ giá thường được tiến hành khi có đơn
khiếu kiện của ngành công nghiệp trong nước trình lên DOC và USITC. Tuy nhiên,
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét