Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và điều tra tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

- Nghiên cứu thực trạng tội phạm cố ý gây thương tích xảy ra trên địa
bàn tỉnh Tiền Giang và công tác phòng ngừa, điều tra khám phá tội phạm từ
năm 2002 đến năm 2006.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
phòng ngừa và điều tra khám phá tội phạm cố ý gây thương tích xảy ra trên
địa bàn tỉnh Tiền Giang.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về thực trạng tội phạm cố ý gây thương tích xảy
ra trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; hoạt động phòng ngừa, điều tra khám phá tội
phạm này của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an
tỉnh Tiền Giang; những nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong phòng ngừa, điều
tra khám phá, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng
ngừa và điều tra khám phá tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh
Tiền Giang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Tập trung nghiên cứu tội phạm cố ý gây thương tích xảy ra trên địa
bàn tỉnh Tiền Giang.
- Nghiên cứu hoạt động phòng ngừa của các cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội và công tác phòng ngừa, điều tra của lực lượng cảnh sát điều tra về trật
tự xã hội Công an Tiền Giang.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2002 đến 2006.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan
điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực đấu tranh phòng,
5
chống tội phạm, lý luận khoa học điều tra hình sự, những thành tựu khoa học
về tư pháp luật hình sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp tổng kết thực tiễn.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu.
- Phương pháp tọa đàm, tham khảo chuyên gia,
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ góp phần làm rõ lý luận khoa học điều
tra hình sự nói chung và điều tra tội phạm cụ thể nói riêng.
- Luận văn giúp lãnh đạo và cán bộ làm công tác điều tra của Công an
tỉnh Tiền Giang trong chỉ đạo, đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và
điều tra tội phạm cố ý gây thương tích nói riêng.
- Luận văn được sử dụng làm nguồn tài liệu nghiên cứu, tham khảo vào
công tác thực tiễn ở các địa phương khác và trong học tập, giảng dạy tại các
trường đào tạo Cảnh Sát Nhân Dân.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các thông tin cần thiết về thực trạng tội phạm cố ý gây
thương tích xảy ra trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; tình hình và tác hại của loại
tội phạm này liên quan đến đời sống xã hội và an ninh trật tự ở địa phương.
- Làm rõ những nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong tổ chức phòng
ngừa, điều tra khám phá tội phạm này trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn được áp dụng vào thực tiễn công tác
phòng ngừa và điều tra khám phá tội phạm cố ý gây thương tích xảy ra trên
6
địa bàn tỉnh Tiền Giang, giúp cho việc củng cố và hoàn thiện công tác này ở
địa phương.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Nội dung luận văn gồm có 3 chương như sau:
+ Chương 1: Tình hình, đặc điểm và những vấn đề có liên quan đến
công tác phòng ngừa, điều tra tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh
Tiền Giang.
+ Chương 2: Thực trạng công tác phòng ngừa, điều tra tội phạm cố ý
gây thương tích trên địa bàn tỉnh Tiền Giang từ năm 2002 - 2006
+ Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa,
điều tra tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
7
CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH, ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA, ĐIỀU TRA TỘI PHẠM CỐ Ý GÂY
THƯƠNG TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG
1.1. Những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thương tích
1.1.1. .Những nhận thức về tội cố ý gây thương tích
Nhà nước quản lý xã hội bằng Pháp luật, cho nên bất kỳ một chế độ xã
hội nào cũng đều phải xây dựng hệ thống pháp luật để điều chỉnh các quan hệ
xã hội nhằm bảo đảm sự ổn định của xã hội, trật tự pháp luật cũng như bảo vệ
nhà nước. Ở nước ta, từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, chính
quyền thuộc về tay nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh, nhà nước Việt Nam đã tiến hành xây dựng hệ thống pháp luật để kịp
thời quản lý và điều hành đất nước, nhiều sắc lệnh, pháp lệnh đã ra đời, trong
đó có các văn bản Pháp luật hình sự để bảo vệ các quyền cơ bản của con
người.
Chúng ta đều biết, mỗi công dân sống trong xã hội bao giờ cũng có
những quyền và lợi ích nhất định, quyền và lợi ích của công dân được quy
định trong chương V, Hiến pháp năm 1992. Một trong những quyền cơ bản
của con người đó là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo
hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Thể chế hóa các quy định
của Hiếp pháp, BLHS Việt Nam đã đưa ra điều luật quy định những hành vi
phạm tội và mức hình phạt khi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự và nhân phẩm của người khác.
Nằm trong nhóm tội phạm có bạo lực, tội phạm cố ý gây thương tích
xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền được bảo vệ về
sức khỏe của con người. Tội phạm này với tội danh là “Tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” được qui định tại Điều
109- BLHS nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1985.
8
Đến năm 1999, trước sự phát triển của đất nước, đòi hỏi phải có một bộ
Luật hình sự mới hoàn chỉnh và phù hợp, đồng thời nhằm mục đích cá thể hóa
trách nhiệm hình sự và cá thể hoá tội phạm, Quốc hội đã ban hành BLHS năm
1999 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2000) tội phạm này được quy định thành 03
điều luật: Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 109 của BLHS năm 1985 chuyển
thành Điều 104, BLHS năm 1999 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác); khoản 4 Điều 109 BLHS năm 1985 chuyển
thành Điều 105 BLHS năm 1999 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh) và
Điều 106 BLHS năm 1999 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng). Tội phạm
cố ý gây thương tích thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh
dự và nhân phẩm của con người được qui định trong Chương 12 – BLHS năm
1999.
Một trong những điểm mới cơ bản của BLHS năm 1999 là thực hiện việc
định lượng mức độ thương tích, tổn hại sức khỏe đối với tội cố ý gây thương
tích và một số tội khác, làm cơ sở phân định ranh giới giữa xử phạt hành
chính và xử lý bằng hình sự cũng như làm cơ sở định khung hình phạt. Chính
vì vậy, điều tra viên cần phải nắm chắc và quán triệt trong các hoạt động thực
thi pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả của công tác điều tra, khám phá tội
phạm cố ý gây thương tích trong tình hình hiện nay.
- Theo Điều 104-BLHS năm 1999 qui định về tội cố ý gây thương tích
thì tỷ lệ thương tật là 11% trở lên đến 31%. Nếu tỷ lệ thương tật chưa đến
11% thì phải thuộc một trong các trường hợp qui định từ điểm a đến điểm k,
khoản 1, Điều 104.
- Điều 105-BLHS năm 1999 qui định về tội cố ý gây thương tích trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và Điều 106-BLHS năm 1999 qui định
9
tội cố gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì tỷ lệ
thương tật của nạn nhân phải từ 31% trở lên.
* Khái niệm tội cố ý gây thương tích
Điều 8 BLHS năm 1999 đã đưa ra khái niệm về tội phạm như sau:
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong BLHS, do
người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm
phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật
tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật
XHCN”. Như vậy, nội hàm của khái niệm tội phạm có các dấu hiệu cơ bản
làm căn cứ để phân biệt tội phạm với những hành vi không phải là tội phạm
đó là: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính phải
chịu hình phạt”. Trong đó tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản nhất,
làm cơ sở cho việc xuất hiện các dấu hiệu khác của tội phạm.
Đối với tội phạm cố ý gây thương tích, tính nguy hiểm cho xã hội được
biểu hiện tập trung nhất ở hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động trực tiếp
lên cơ thể người khác, làm tổn thương một bộ phận hay toàn bộ cơ thể con
người như: làm gãy tay, chân, cụt tay, cụt chân, mù mắt,…
Tính có lỗi là thể hiện ở thái độ tâm lý của một người đối với tội phạm
mà người đó gây ra. Về mặt hình sự, lỗi của người phạm tội được xác định
trên cơ sở làm rõ người phạm tội có nhận thức được tính chất, mức độ hành vi
phạm tội của mình hay không, ý thức đối với hậu quả của hành vi do mình
gây ra. Tội phạm gây thương tích có hai loại lỗi là: lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Đối
với tội cố ý gây thương tích thì trong qui định của BLHS đã thể hiện rõ lỗi
của người thực hiện tội phạm là cố ý. Nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ
10
hành vi dung sức mạnh vật chất tác động trực tiếp lên cơ thể người khác là
hành vi có thể gây thương tích và mong muốn gây thương tích cho nạn nhân.
Người phạm tội do lỗi cố ý có tính nguy hiểm hơn người phạm tội do lỗi vô ý.
Tính trái pháp luật hình sự của tội phạm nói chung và tội phạm cố ý
gây thương tích nói riêng thể hiện trong quy định của Điều 2 BLHS: “Chỉ
người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách
nhiệm hình sự”. Đối với hành vi cố ý gây thương tích trong các trường hợp
khác nhau, người phạm tội thực hiện những hành vi mà luật hình sự ngăn cấm
cụ thể được quy định tại các Điều 104, Điều 105, Điều 106 - BLHS.
Tính chịu hình phạt là dấu hiệu cơ bản của tội phạm vì nó được xác
định bởi chính những thuộc tính khách quan bên trong của tội phạm, chỉ có
hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, không áp dụng hình phạt đối với
người vô tội hoặc người có hành vi vi phạm pháp luật khác. Tuy nhiên, trên
thực tế có những trường hợp người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự
hoặc miễn hình phạt theo quy định tại Điều 25, Điều 57 BLHS. Đối với tội cố
ý gây thương tích, các hình phạt được quy định trong BLHS để áp dụng đối
với người thực hiện tội phạm là: cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời
hạn, tù chung thân.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về tội phạm cố ý gây
thương tích như sau: Tội phạm cố ý gây thương tích là nhóm tội phạm do
người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý dùng sức mạnh vật chất và thể
chất tác động trực tiếp lên cơ thể người khác, nhằm gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của họ và bị xử lý theo quy định tại Điều 104, 105, 106-
BLHS.
* Dấu hiệu pháp lý về tội cố ý gây thương tích
Căn cứ vào nội dung quy định của Điều luật, tội phạm cố ý gây thương
tích là một nhóm tội phạm cụ thể được quy định tại các Điều 104; Điều 105;
11
Điều 106 BLHS năm 1999. Về mặt lý luận tội phạm cố ý gây thương tích có
đầy đủ các yếu tố cấu thành như sau:
- Mặt khách thể của tội phạm: Tội phạm cố ý gây thương tích xâm hại
vào quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng,
sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người được qui định rõ tại Điều 71
Hiếp pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Như vậy khách thể trực tiếp của
tội phạm cố ý gây thương tích không phải là con người nói chung mà là sức
khỏe của người khác, là quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân đã
được Hiến pháp năm 1992 qui định. Những trường hợp tự gây thương tích
hoặc tổn hại sức khỏe của cho bản thân mình thì không cấu thành tội phạm
này.
+ Điều 104, BLHS qui định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý làm cho người khác bị thương
hoặc tổn hại đến sức khỏe.
+ Điều 105, BLHS qui định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là
hành vi cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe do hành
vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với
người thân thích của người đó.
+ Điều 106, BLHS qui định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là
hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức xã hội, bảo vệ
quyền lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một
cách rõ ràng là quá mức cần thiết, làm cho người có hành vi xâm phạm các lợi
ích bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe. Tội phạm này vừa xâm phạm quyền
được bảo hộ sức khỏe, tính mạng của người khác, đồng thời cũng xâm phạm
quyền phòng vệ chính đáng được qui định tại Điều 15, BLHS.
12
- Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm cố ý gây
thương tích là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, đó là người phạm
tội thực hiện các hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động trực tiếp lên cơ thể
người khác, làm cho người đó bị thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe. Dùng
sức mạnh vật chất có nghĩa là người phạm tội dùng tay, chân … đấm đá hoặc
dùng các loại công cụ, phương tiện, súng, lựu đạn hoặc các loại hung khí khác
như : dao, cây, đá, gậy, các loại hóa chất,…để gây thương tích, gây tổn hại
sức khỏe cho người khác.
+ Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác (Điều 104) thì người phạm tội thực hiện các hành vi tác động vào
cơ thể của người khác làm cho người đó bị thương, bị tổ hại sức khỏe. Ngoài
ra, có những trường hợp người phạm tội bắt người bị hại tự gây thương tích
cho mình hoặc tác động qua người trung gian, qua vật trung gian nếu chứng
minh được động cơ, mục đích cố ý gây thương tích cho người khác. Nếu
người nào tự gây thiệt hại cho sức khỏe của chính mình thì cần làm rõ động
cơ của hành vi đó, tùy từng trường hợp có thể xem xét trách nhiệm hình sự
theo tội khác như tội trốn tránh nhiệm vụ (Điều 326).
+ Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác ở Điều 105 thì người phạm tội thực hiện hành vi trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn
nhân. Đây là tình trạng người phạm tội không thể hoàn toàn tự chủ, tự kiềm
chế hành vi phạm tội của mình. Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của
người phạm tội phải do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây
nên đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó.
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng là hành vi trái pháp luật nói chung
(không chỉ riêng trái pháp luật hình sự) và phải ở mức độ nghiêm trọng xảy ra
một cách tức thời. Cũng có trường hợp hành vi trái pháp luật của nạn nhân có
13
tính chất đè nén, áp lực nặng nề, đến một thời điểm nhất định mới bung lên
thì vẫn được coi là tinh thần bị kích động mạnh. Trường hợp nếu tinh thần bị
kích động không mạnh thì không phạm tội này. Người phạm tội thực hiện các
hành vi tác động vào cơ thể của người khác làm cho người đó bị thương, bị
tổn hại sức khỏe. Các hành vi như: đâm, chém, bắn, đấm đá, đốt cháy, đầu
độc, … Có trường hợp người phạm tội bắt người bị hại tự gây thương tích cho
mình như: tự chọc vào mắt mình, uống thuốc phá thai, chặt ngón tay,
+ Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác ở Điều 106 do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì người
phạm tội thực hiện hành vi là do nạn nhân đang có hành vi xâm hại lợi ích của
Nhà nước, của tập thể, lợi ích chính đáng của người phạm tội hoặc của người
khác. Căn cứ theo Điều 15, BLHS qui định về phòng vệ chính đáng thì tội này
phải thỏa mãn 4 dấu hiệu sau:
♦Hành vi của nạn nhân là hành vi phạm tội hoặc là hành vi nguy hiểm
cho xã hội và trực tiếp xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân.
♦Hành vi xâm hại của nạn nhân phải đang diễn ra, đã bắt đầu nhưng
chưa kết thúc.
♦Hậu quả xảy ra là nạn nhân bị thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến
chết người. Nạn nhân là người có hành vi xâm hại đến lợi ích của nhà nước,
của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
♦Hành vi phòng vệ (tấn công trở lại) của người phạm tội là quá mức
không tương xứng với hành vi xâm hại của nạn nhân nên làm cho nạn nhân bị
thương tích hoặc tổn hại sức khỏe. Tuy nhiên không phải mọi hành vi chống
trả gây cho người đang có hành vi xâm hại bị thương 31% trở lên, thậm chí
gây chết người đều không được coi là phòng vệ chính đáng mà phải xem xét
hành vi chống trả có tương xứng hay không? Để đánh giá mức độ tương xứng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét