Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý xuất khẩu, nhập khẩu qua kiểm tra, giám sát Hải quan ở Cục Hải quan TP. Hà Nội

nhằm đảm bảo yêu cầu cân đối trong sự phát triển do chính các qui luật và
tính qui luật khách quan của đời sống kinh tế - xã hội quy định.
Tóm lại, việc khắc phục những nhược điểm, hạn chế những khuyết tật của
cơ chế thị trường để tạo điều kiện thuận lợi cho cơ chế này hoạt động có hiệu
quả không thể không có nhà nước với tư cách là chủ thể của toàn bộ nền kinh
tế quốc dân. Như vậy, nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế là nhu
cầu khách quan, nội tại của nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị
trường, còn việc điều tiết, khống chế và định hướng các hoạt động kinh tế của
các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế theo phương hướng và mục tiêu nào
lại lệ thuộc vào bản chất của các hình thức nhà nước và con đường phát triển
mà nước đó lựa chọn.
b. Quản lý nhà nước về xuất-nhập khẩu là một yêu cầu tất yếu.
Thương mại quốc té trong nền kinh tế quốc dân có vai trò vô cùng quan
trọng nhất là trong giai đoạn mà “đóng cửa là tự bóp chết nền kinh tế”. Tuy
nhiên, để hoạt động này có hiệu quả thì phải có sự quản lý của nhà nước. Là
một đối tượng trong quản lý nhà nước về kinh tế, để phát huy vai trò cũng
như tiềm năng ngoại thương thì tăng cường đổi mới công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động xuất-nhập khẩu là rất cần thiết.
Kinh doanh thương mại quốc tế cũng như bất kỳ một hoạt động nào khác
của con người đều cần có sự tổ chức và quản lý nhằm đảm bảo cho hệ thống
đó hoạt động chính xác, đúng yêu cầu, mục tiêu nhiệm vụ đề ra. Chuyển sang
nền kinh tế thị trường một mặt phát huy những ưu điúm, đồng thời khắc phục
các nhược điúm của nền kinh tế thị trường. Phải biết rằng kinh tế thị trường
không phải là chiếc gậy thần, cũng không phải là chìa khoá vạn năng. Trong
kinh doanh thương mại quốc tế hiện nay tình trạng lộn xộn, tranh xuất, tranh
nhập diễn ra rất phổ biến gây rối loạn thị trường trong nước, dẫn đến ép giá.
Bên cạnh đó, thủ tục nhiều cửa với những qui định rườm rà cũng gây không ít
khó khăn cho nhà hoạt động kinh doanh xuất-nhập khẩu. Nguyên nhân chính
là chưa có những qui định chặt chẽ, rõ ràng về chức năng nhiệm vụ cũng như
phạm vi can thiệp của các cơ quan quản lý dẫn đế sự chồng chéo trên một số
lĩnh vực khác. Việc xử lý các vi phạm trong quản lý kinh doanh xuất-nhập
khẩu chưa kịp thời nghiêm khắc. Kinh doanh xuất-nhập khẩu tiểu ngạch qua
một số tỉnh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam chưa được tổ chức và
quản lý thích hợp. Hậu quả của nó là những mặt hàng nhập lậu vào trong
nước. Thực trạng của kinh doanh xuất-nhập khẩu hiện nay đòi hỏi sự can
5
thiệp của nhà nước một cách có hệ thống đúng đắn hơn, khoa học và kịp thời
hơn.
c. Quản lý nhà nước của Việt Nam trong lĩnh vực xuất-nhập khẩu.
Để khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu, hướng nhập khẩu phục vụ tốt sản
xuất và tiêu dùng, bảo vệ và phát triển sản xuất trong nước, nâng cao hiệu quả
sản xuất, mở rộng hợp tác kinh tế thương mại với nước ngoài góp phần thực
hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời để quản lý hoạt động
xuất-nhập khẩu. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng: Quyết
định 117- HĐBT ngày 16/6/1987 về chính sách, biện pháp đẩy mạnh xuất
khẩu và quản lý xuất-nhập khẩu; Nghị định 64 - HĐBT ngày 10/6/1989 về
chấn chỉnh và đổi mới cơ chế quản lý hoạt động xuất-nhập khẩu. Đặc biệt
nghị định 114 - HĐBT ngày 7/4/1992 về quản lý nhà nước đối với hoạt động
xuất-nhập khẩu, so với các văn bản đã được ban hành trước đó, nghị định này
đã đánh dấu bước chuyển từ mô hình nhà nước độc quyền ngoại thương sang
tự do hoá ngoại thương, từ biện pháp quản lý bằng mệnh lệnh, chỉ được làm
cái mà chính phủ cho phép sang biện pháp quản lý bằng đòn bẩy kinh tế,
được phép làm những gì mà chính phủ không cấm. Đến năm 1994, trước
những chuyển biến kinh tế xã hội trong nước và quốc tế, chính phủ đã ban
hành nghị định 33/cp ngày 19/4/1994 về quản lý nhà nước với hoạt động xúât
nhập khẩu nhằm bổ xung, sửa đổi những khiếm quyết của nghị định 144-
HĐBT cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn và các văn bản hướng đẫn quan
trọng khác.
Theo tinh thần cơ bản của nghị định trên, nhà nước nhà nước ta đã quản lý
thống nhất mọi hoạt động kinh doanh xuất-nhập khẩu bẳng luật pháp và các
chế độ chính sách có liên quan tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức xuất-
nhập khẩu hoạt động đúng hướng và hiệu quả cao.
Ở nước ta, hoạt động thức xuất-nhập khẩu chịu sự quản lý của nhà nước có
các hình thức sau:
- Xuất-nhập khẩu hàng hoá (kể cả thiết bị toàn bộ ) với nước ngoài và với
khu chế xuất, thông qua thương mại, hợp tác quốc tế và khoa học kỹ thuật,
hợp tác đầu tư, viện trợn, vay và trả nợ.
- Tạm nhập để tái xuất, tạm xuất để tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh hàng
hoá.
- Chuyển giao sở hữu công nghiệp.
6
- Gia công chế biến hàng hoá và chế biến thành phẩm cho nước ngoài hoặc
thuê nước ngoài gia công chế biến.
- Đại lý mua, bán hàng hoá, uỷ thác và nhận uỷ thác xuất-nhập khẩu cho
các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.
Ngoài ra, các hàng hoá và dịch vụ xuất-nhập khẩu phi mậu dịch được quản
lý theo chế độ riêng:
- Vàng bạc, đà quý
- Quả biếu
- Tài sản di chuyển
- Bưu phẩm bưu điện mang tính thương mại
- Hàng của người Việt mang theo để dùng khi xuất-nhập khẩu.
- Hàng xuất, nhập khẩu giữa các khu chế xuất với nhau và gữa các khu chế
xuất với nước ngoài.
- Các dịch vụ du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, bưu điện, hàng không, đường
sắt, đường bộ, đường thuỷ.
Việc quản lý nhà nước với các hoạt động xuất-nhập khẩu đựoc thực hiện
theo các nguyên tắc sau :
- Tân thủ luật pháp và các chính sách có liên quan của nhà nước về sản xuất
lưu thông và quản lý thị trường.
- Tôn trọng các cam kết với nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế.
- Bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp và bảo đảm sự
quản lý của nhà nước.
Nhà nước khuyến khích và có chính sách hỗ trợ đối với các doanh nghiệp
phát triển và mở rộng thị trường mới; xuất khẩu những mặt hàng nhà nước
khuyến khích.
Về tổ chức quản lý hoạt động xuất-nhập khẩu, nhà nước qui định : Bộ
thương mại là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thống nhất đối
với hoạt động xuất-nhập khẩu; các bộ, các uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương có trách nhiệm tham gia với bộ thương mại quản lý
trên các mặt.
7
- Hướng dẫn và chỉ đạo và thực hiện đúng các chính sách quy định của nhà
nước về quản lý xuất-nhập khẩu,trong phạm vi ngành và địa phương.
- Kiến nghị điều chỉnh chính sách, biện pháp quản lý hoạt động xuất khẩu.
d. Các công cụ quản lý nhà nước về hoạt động xuất-nhập khẩu ở nước ta
và các công cụ quản lý xuất-nhập khẩu đang được áp dụng là:
- Thủ tục Hải quan
- Thuế xuất-nhập khẩu.
- Hạn ngạch xuất-nhập khẩu.
- Giấy phép xuất-nhập khẩu.
- Quản lý ngoại tệ.
Vai trò và tác dụng của mỗi công cụ trên là như nhau song cùng với mục
đích là quản lý hoạt động xuất-nhập khẩu. Trong bài viết này, tôi chỉ tập
chung đi vào nghiên cứu việc sử dụng công cụ Hải quan để kiểm tra, giám sát
và quản lý hoạt động xuất-nhập khẩu.
2. HẢI QUAN RA ĐỜI TRÊN CƯƠNG VỊ LÀ MỘT TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ
CỦA CHÍNH PHỦ.
Ngay từ khi mới khai sinh, nhà nước rất chú trọng quản lý bằng công cụ
Hải quan. Việc thành lập sở thuế quan và thuế gián thu theo sắc lệnh 27/Sl
ngày 10/9/1945 đã xác định vai trò của nhà nước về thuế quan, xác định vị trí
của ngành Hải quan, một trong những công cụ của nhà nước cách mạng nhằm
bảo vệ lợi ích, chủ quyền và an ninh đất nước.
Tại điều 3 pháp lệnh Hải quan Việt Nam quy định chức năng, nhiệm vụ của
ngành Hải quan như sau: “Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn do pháp lệnh
này quy định, Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
Hải quan với hoạt động xuất-nhập khẩu, xuất cảnh nhập cảnh, quá cảnh
mượn đường Việt Nam, đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyền trái phép
hàng hoá, ngoại tệ, tiền Việt Nam qua biên giới. Trong hoạt động của mình,
Hải quan Việt Nam tuân theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên
quan đến hoạt động Hải quan mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc công
nhận.”
Nhà nước sử dụng công cụ quản lý bằng Hải quan nhằm định ra các chính
sách, luật pháp nhằm điều chỉnh hoạt động xuất-nhập khẩu, xuất nhập cảnh
bảo đảm cho việc phát triển quan hệ kinh tế, văn hoá trong nước với nước
8
ngoài, góp phần tăng cường sự giao lưu và hợp tác quốc tế, bảo vệ chủ quyền
an ninh quốc gia.
Quản lý nhà nước về Hải quan còn là tổ chức thực hiện về kiểm tra Hải
quan tại biên giới, cửa khẩu và bất cứ nơi nào có hàng hoá xuất-nhập khẩu,
phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, bao gồm nhiều mặt hoạt động, trong đó
hai mặt hoạt động chủ yếu là thu thuế xuất-nhập khẩu và chống buôn lậu qua
biên giới.
Do đó, việc quản lý nhà nước bằng công cụ Hải quan là vô cùng tất yếu,
chức năng quản lý đó thể hiện ở hai mặt : quản lý bằng chính sách luật pháp
và bằng hoạt động kiểm tra, giám sát. Nhà nước ta tạo điều kiện thuận lợi đối
với hoạt động xuất-nhập khẩu, xuất nhập cảnh trên cơ sở tuân thủ luật pháp
Việt Nam.
Ngày nay, trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế đất nước, hoạt động
kinh tế đối ngoại và sự giao lưu quốc tế nói chung càng phát triển cả về chiều
sâu và chiều rộng, điều đó đặt ra yêu cầu khách quan phải tăng cường hơn
nữa quản lý nhà nước về Hải quan. Đối tượng quản lý càng mở rộng, phức
tạp, phong phú, có trình độ phát triển cao thì công tác quản lý cũng phải tăng
cường tương xứng mới đáp ứng yêu cầu quản lý.Vai trò và trách nhiệm của
ngành Hải quan do đó rất nặng nề nhưng cũng rất vinh dự.
3. VAI TRÒ CỦA HẢI QUAN TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT HOẠT
ĐỘNG XUẤT-NHẬP KHẨU.
Như trên đã khẳng định, hoạt động xuất-nhập khẩu cũng nằm trong những
đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước về kinh tế. Hoạt động xúât nhập khẩu,
bên cạnh những đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế thì
vẫn còn có nhiều tồn tại ( những khuyết tật, những mặt trái vốn có của nó) mà
các cơ quan chức năng của nhà nước ( trong đó có Hải quan và thuế vụ, ngành
tài chính, cơ quan quản lý thị trường ). Những mặt còn tồn tại này đòi hỏi
các cơ quan quản lý, nhất là lực lượng Hải quan phải hiểu rõ để chủ động
ngăn ngừa, hạn chế. Ví như, do có cạnh trạnh nên dễ dẫn đến tranh mua, tranh
bán lộn xộn; các tệ nạn như buôn lậu, trốn thuế, hối lộ nhân viên nhà nước
dẫn đến thất thoát lớn là rất có chiều hướng xảy ra. Vì vậy, Hải quan nói riêng
và các cơ quan quản lý nói chung cần phát huy chức năng kiểm soát thường
xuyên, chặt chẽ kịp thời đảm bảo việc xuất-nhập khẩu theo đúng pháp luật; và
từ diễn biến thực tế, nhà nước không ngừng bổ sung, hoàn thiện luật pháp về
xuất-nhập khẩu. Trong cạnh tranh sẽ có những doanh nghiệp xấu để cản trở,
9
phá hoại các doanh nghiệp khác nhằm thôn tính kẻ yếu. Các cơ quan quản lý
phải xem xét mặt hiệu quả kinh tế xã hội để xây dựng luật pháp, cơ chế quản
lý, kiếm soát điều hành, điều tiết cho nhanh, phù hợp và có hiệu quả.
Công tác xuất-nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá với nước ngoài để phát
triển sản xuất thương mại, từ đó góp phần nâng cao đời sống nhân dân; nhưng
do có yếu tố nước ngoài nên có nhiều nét khác với nội thương. Nó rất đa
dạng, phức tạp do có giao dịch với các doanh nhân và người có quốc tịch
khác nhau, trong một thị trường rộng lớn, khó kiểm soát; việc mua bán qua
trung gian chiếm tỉ trọng lớn; đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh. Hàng
hoá phải vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu của nhiều quốc gia khác nhau và
phải tuân thủ tập quán, những thông lệ quốc tế của các địa phương, các vùng
lãnh thổ khác nhau
Chính tại những nơi đó, ngoài những chủ thể hàng hoá tuân thủ pháp luật
còn có những chủ thể có những hành vi buôn lậu, trốn thuế với những thủ
đoạn tinh vi. Vì vậy ở nước ta cũng như bất kì quốc gia nào, Hải quan có vị trí
vô cùng quan trọng trong lĩnh vực quản lý xuất-nhập khẩu, hàng hoá xuất
nhập cảnh và đặc biệt chống buôn lậu và ngăn chặn việc vận chuyển, buôn
bán trái phép hàng hoá, tiền tệ, tài sản, hàng cấm qua biên giới.
Từ ngày đất nước thống nhất đến nay, Hải quan Việt Nam và các ngành
chức năng liên quan đã không ngừng lớn mạnh, phát triển góp phần to lớn vào
công cuộc xây dựng kinh tế xã hội và bảo vệ an ninh quốc gia.
Hải quan là lực lượng “gác cửa“ nền kinh tế đất nước. Đây là vinh dự và
trách nhiệm rất nặng nề. Trong nền kinh tế thị trường khi lợi nhuận cao thì
buôn lậu và gian lận thương mại càng tinh vi, cuộc đấu tranh chống buôn lậu
và gian lận thương mại càng gian nan và muốn đạt được kết quả cao thi phải
tiến hành đồng thời cuộc chiến tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Đó là
những công việc không thể tiến hành trong thời gian ngắn mà phải là một quá
trình lâu dài và liên tục.
Thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất-nhập
khẩu, ngành Hải quan góp phần thu hút các “làn gió lành” và ngăn chặn các
“làn gió độc” thổi vào nước ta, tạo thuận lợi nhất cho các hoạt động kinh tế
đối ngoại đảm bảo thực hiện chính sách về nhập khẩu hàng hoá cũng như
chống buôn lậu và gian lận thương mại của nhà nước CHXHCN Việt Nam.
10
“Người lính biên phòng của nền kinh tế”_ Hải Quan chịu trách nhiệm
chính ở các cửa khẩu, quốc gia, quốc tế nhằm kiểm tra, kiểm soát công khai
hàng hoá, tiền tệ, giữ vững kỉ cương, phép nước đối với hoạt động xuất-nhập
khẩu, xuất nhập cảnh và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bảo hộ và thúc đẩy
sản xuất trong nước phát triển, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, bảo vệ lợi ích
chủ quyền kinh tế, an ninh quốc gia và an toàn xã hội góp phần chống lại các
nguy cơ đối với đất nước mà đại hội đảng đã đề ra.
4. NỘI DUNG CÔNG TÁC KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT HẢI QUAN
4.1. Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc của công tác kiểm tra, giám sát Hải
quan
a.mục đích.
Hải quan tiến hành thủ tục Hải quan, thực hiện chế độ kiểm tra giám sát
Hải quan với các đối tượng kiểm tra Hải quan nhằm :
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Hải quan đối với hoạt động
xuất-nhập khẩu, xuất-nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường khi qua biên giới
Việt Nam.
- Bảo đảm thực hiện chính sách của nhà nước về phát triển quan hệ kinh tế,
văn hoá với nước ngoài, góp phần tăng cường sự giao lưu và hợp tác quốc tế,
bẩo vệ sản xuất trong nước, bảo vệ lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia.
b. Yêu cầu.
- không để lọt các đối tượng kiểm tra Hải quan khi qua biên giới Việt Nam,
theo quy định phải làm thủ tục Hải quan, chịu sự kiểm tra giám sát Hải quan
mà lại không làm thủ tục Hải quan.
- Cần xác định rõ từng đối tượng kiểm tra Hải quan để áp dụng và thực hiện
đúng đắn các chế độ đối với từng loại đối tượng kiểm tra, không để lẫn lộn
giữa hàng hoá này với các hàng hoá loại khác, đối tượng kiểm tra loại này với
đối tượng kiểm tra loại khác.
- Phát hiện ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp lệnh hải Hải quan và các
luật lệ khác liên quan đến xuất-nhập khẩu.
- Thủ tục Hải quan phải công khai, nhanh chóng thuận tiện.
c. Nguyên tắc.
11
- Hàng hoá, hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam, bưu kiện, bưu phẩm xuất-
nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh khi làm thủ tục Hải quan phải
chịu sự kiểm tra Hải quan.
- Hàng hoá, hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam, bưu kiện, bưu phẩm đã
nhập nhưng chưa hoàn thành thủ tục Hải quan hoặc đã hoàn thành thủ tục Hải
quan nhưng chưa thực xuất đều chịu sự giám sát Hải quan.
- Việc kiểm tra giám sát Hải quan được tiến hành với sự có mặt của chủ đối
tượng kiểm tra, giám sát hoặc đại diện hơp pháp tại địa điểm kiểm tra Hải
quan cửa khẩu trừ trường hợp có yêu cầu tại địa điểm khác được Hải quan
chấp nhận. Trong trường hợp cần thiết (lý do an ninh, vệ sinh môi trường )
Hải quan có quyền kiểm tra Hàng vắng chủ với sự có mặt của cơ quan vận tải
( điều 17 - Pháp lệnh Hải quan ).
- Hàng hoá xuất-nhập khẩu chịu sự kiểm tra, giám sát nếu lưu kho phải
thực hiện chế độ niêm phong Hải quan( điều 19-pháp lệnh Hải quan ).
- Các căn cứ để Hải quan kiểm tra hàng hoá xuất-nhập khẩu là :
+ Qui định của nhà nước về xuất-nhập khẩu.
+ Các giấy tờ cần thiết khác theo qui định pháp luật
+ Đối chiếu với các tờ khai Hải quan, vân đơn và thực tế hàng hoá.
4.2. Thủ tục Hải quan.
4.1.1. khái niệm :
* Thủ tục Hải quan là các công việc mà người làm thủ tục Hải quan và
nhân viên Hải quan phải thực hiện theo qui định của pháp luật với các đối
tượng làm thủ tục Hải quan khi xuất khẩu, nhập khẩu; xuất cảnh, nhập cảnh
hoặc quá cảnh.
* Đối tượng làm thủ tục Hải quan :
- Hàng hoá, ngoại hối, kim khí, đá quý, tiền Việt Nam, văn hoá phẩm, tài
liệu, bưu phẩm, bưu kiện, các đồ vật và tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu;
phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh hoặc quá cảnh qua lãnh thổ Việt
Nam đều phải làm thủ tục Hải quan.
- Người làm thủ tục Hải quan là người thực hiện thủ tục với cơ quan Hải
quan bao gồm :
+ Người sở hữu đối tượng làm thủ tục Hải quan
12
+ Người được ủy quyền hợp pháp của người sở hữu đối tượng làm thủ tục
Hải quan.
+ Người làm dịch vụ thủ tục Hải quan theo quy định của pháp luật.
+ Người điều khiển phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh.
- Việc làm thủ tục Hải quan được tiến hành tại các cửa khẩu, càng biển,
cảng sông, cảng hàng không dân dụng quốc tế, cửa khẩu biên giới đường bộ,
ga liên vận đường sắt quốc tế, bưu cục ngoại dịch, bưu cụ kiểm quan, các địa
điểm làm thủ tục Hải quan khác ngoài cửa khẩu do thủ tướng chính phủ quyết
định theo đề nghị của TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN.
4.2.2. Qui trình thủ tục Hải quan với hàng hoá xuất-nhập khẩu.
Thực hiện nghị định của chính phủ qui định về thủ tục Hải quan số 16/1999
ND-CP. Cục Hải quan thành phố đã tiến hành thủ tục Hải quan đối với hàng
hoá nhập khẩu bao gồm các bước sau:
a. Khai báo và tiếp nhận hồ sơ Hải quan.
Tất cả các hàng hoá không thuộc diện miễn thủ tục Hải quan thì phải khai
báo cho Hải quan cửa khẩu.
* Người khai báo có trách nhiệm :
-Tự kê khai hàng hoá xuất-nhập khẩu theo mẫu tờ khai do cụ Hải quan
phát hành
- Phải khai đầy đủ các mục in sẵn trong tờ khai hàng, phần đành cho chủ
hàng. Đặc biệt phải chính xác đầy đủ tên hàng, mã, số lượng đơn giá, trị giá
của hàng hoá đó. Nếu khai thiếu không chính xác, Hải quan không cho đăng
ký tờ khai.
- Nộp và xuất trình bộ hồ sơ Hải quan, gồm các giấy tờ sau:
+ Tờ khai Hải quan.
+ Hợp đồng thương mại.
+ Bảng kê chi tiết (PACKING-LIST) đối với hàng không đồng nhất.
+ Hoá đơn thương mại, vân đơn : với hàng nhập khẩu
+ Các giâý tờ khác.(với các loại hàng khác).
* Nhân viên Hải quan tiếp nhận hồ sơ Hải quan có trách nhiệm :
13
- Kiểm tra tính hợp lệ và đồng bộ của hồ sơ Hải quan.
- Kiểm tra nội dung tự kê khai và tự tính thuế của người khai báo Hải quan.
- Đề xuất phương pháp kiểm tra thích hợp qua kết quả kiểm tra sơ bộ hồ sơ
Hải quan và các tiêu chí phân luồng kiểm tra
Tờ khai Hải quan và những giấy tờ kèm theo của chủ đối tượng kiểm tra
Hải quan khai báo và nộp Hải quan là cơ sở pháp lý thông qua đó có thể xác
định hành vi vi phạm pháp lệnh Hải quan nếu có, đồng thời là cơ sở để Hải
quan thực hiện các khâu nghiệp vụ tiếp theo.
b. Xuất trình và kiểm tra hàng hoá.
Căn cứ vào bộ hồ sơ đã được đăng ký để kiểm hoá. Nguyên tắc qui trình về
kiểm hoá thi hành theo qui chế ban hành kèm theo quyết định 189/TCHQ-
GSQL ngày 7/10/1994. Kiểm tra hàng hoá phải xác định đầy đủ chính xác nội
dung hàng hoá, đặc biệt chính xác về mã hàng hoá khai báo với thực tế số
lượng, trọng lượng. Sau khi ghi đầy đủ, chính xác kết quả kiểm hoá, chuyển
toàn bộ hồ sơ cho bộ phận tính và thông báo thuế.
* Với người làm thủ tục Hải quan
- Xuất trình đầy đủ hàng hoá để cơ quan kiểm tra theo thời gian và địa điểm
quy định.
- Bố trí phương tiện và công nhân phục vụ việc kiểm tra hàng hoá của cơ
quan Hải quan.
- Có mặt trong thời gian kiểm hoá hàng hóa.
* Đối với cơ quan Hải quan :
- Trong thời gian và tại địa điểm qui định phải tiến hành kiểm tra thực tế
hàng hoá đối với bộ kê khai và tự tính thuế của chủ hàng.
- Căn cứ và quy định của nhà nước về xuất-nhập khẩu, quá trình chấp hành
pháp luật của người làm thủ tục Hải quan, tính chất chủng loại hàng hoá,
nguồn gốc hàng hoá. Hải quan nơi tiến hành kiểm tra quyết định phương pháp
kiểm tra, kiểm tra toàn bộ; kiểm tra nguyên đai nguyên kiện hoặc kiểm tra
một phần theo qui định của tổng cục trưởng tổng cục Hải quan.
- Xác nhận kết quả kiểm tra hàng hoá và tờ khai Hải quan trong đó ghi rõ
phương pháp kiểm tra hàng hoá, kết quả kiểm tra cụ thể và số sai lệch (nếu
có) giữa tự kê khai của chủ hàng và kiểm tra thực tế của cán bộ Hải quan.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét