Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Thị trường tài chính và các công cụ của thị trường tài chính

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2. Các công cụ mang lãi suất
Các chứng khoán mang lãi suất đợc phát hành với mệnh giá cố định đợc
đáo hạn ở những ngày nhất định và tất cả đến mang phiếu lãi suất, đó là lãi suất
mà ngời phát hành hứa hẹn thanh toán cho ngời nắm giữ trên mệnh giá của
chứng khoán sau một khoảng thời gian đã thỏa thuận bao gồm các loại sau:
a. Chứng chỉ tiền gửi ngân hàng (CDs): Là sổ tiết kiệm xác nhận cá nhân
hay tổ chức có tiền gửi ở ngân hàng.
Chủ thể phát hành: các ngân hàng thơng mại
Mục đích: đáp ứng nhu cầu vốn cho vay của ngân hàng đó là nghiệp vụ đi
vay để cho vay.
Các đặc điểm: Lãi suất của chứng chỉ tiền gửi đợc quy định cho từng thời
kỳ nhất định. Khi đến hết thời hạn thanh toán, CDs đuợc trả hết giá mua ban
dầu. Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia quy định CDs có thể lập đợc mua bán
chuyển nhợng hay không.
b. Các hợp đồng mua lại (Repurchase agreement)
Chủ thể phát hành: Những ngời kinh doanh ngân hàng và phi ngân hàng là
những ngời tạo chứng khoán chính phủ, chứng chỉ tiền gửi, các chấp nhận của
ngân hàng.
2. Các công cụ của thị trờng vốn
Là các công cụ tài chính trung và dài hạn bao gồm một số loại chủ yếu
sau:
a) Cổ phiếu
Là loại chứng khoán vốn do công ty cổ phần phát hành để hình thành vốn
điều lệ khi mới thành lập hoặc chỉ tăng vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh.
Định nghĩa này đã xác định chủ thể phát hành và mục đích phát hành công cụ
này.
b) Vay thế chấp
Vay thế chấp là những món tiền cho các cá nhân hoặc các công ty kinh
doanh vay để mua nhà, đất, hoặc những công trình kiến trúc thực khác, trong đó
các công trình kiến trúc và đất đợc dùng làm vật thế chấp cho món vay.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
c. Trái khoán công ty
Đây là loại trái khoán dài hạn do các công ty phát hành với mức tín dụng
rất mạnh. Trái khoán công ty điển hình mang lại cho ngời giữ nó một khoản
thanh toán lãi 2 lần mỗi năm và thanh toán hết mệnh giá khi trái khoán đến kỳ
hạn thanh toán.
d. Những món vay thơng mại ngân hàng cấp và vay tiêu dùng
Đây là những món vay dành cho ngời tiêu dùng và cho những công ty kinh
doanh và chủ yếu do ngân hàng cho vay, nhng trờng hợp các món vay của ngời
tiêu dùng, cũng còn do những công ty tài chính cho vay.
II/ Các nhân tố ảnh hởng
Bình luận: Qua việc tìm hiểu ở trên đặc biệt là các đặc điểm của từng loại
công cụ tài chính đã chịu ảnh hởng của các nhân tố tự thân nó đã là chủ thể phát
hành, mục đích phát hành, quy định của nhà nớc áp dụng đối với từng loại công
cụ hay đó là những nhân tố hiện tại của công cụ tài chính. Và xét trong thời
gian dài thì tại mỗi thời điểm thì lãi suất thực của công cụ tài chính sẽ khác
nhau. Trong rất nhiều các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội ảnh hởng nên xem
xét dới góc độ những nguyên nhân thay đổi, chúng có thể phân chia làm 4
nhóm nhân tố lớn: nhóm thứ nhất là các yếu tố nội tại kể trên, nhóm thứ hai là
tác động của các nhân tố chính trị xã hội, và cuối cùng là tác động của công ty
và tình hình tài chính công ty chủ thể quan trọng trong tạo ra hàng hóa cho thị
trờng tài chính. Việc phân chia này chỉ có tính chất tơng đối bởi vì các yếu tố
kinh tế, chính trị, xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau đó là mối quan hệ đa
cộng tuyến. ở phần này em xin trình bày các nhân tố ảnh hởng và các cơ chế
ảnh hởng đến lãi suất hay trả lời câu hỏi nh thế nào?. Xét dới góc độ cung cầu
thì mọi nhân tố trên có thể quy về ảnh hởng tới đờng cầu trái khoán hay đại l-
ợng quyết định đến lãi suất của các công cụ tài chính. Vậy các nhân tố ảnh h-
ởng đến D-S của trái khoán nh thế nào?
1. Các yếu tố nội tại của công cụ tài chính
1.1. Độ rủi ro của các công cụ tài chính
Trong cuộc sống hàng ngày có lẽ cũng rất ít ngời đợc a thích rủi ro mạo
hiểm, trong thị trờng tài chính cũng vậy các công cụ tài chính đợc quảng cáo
tuy rầm rộ đến mấy thì công chúng cũng không hào hứng tham gia nếu nó chứa
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đựng nhiều yếu tố rủi ro ở bên trong. Do đó nó sẽ là hàng hóa không đợc mọi
ngời a thích tức là cầu về công cụ đó giảm dẫn đến đờng cầu về trái khoán sẽ
dịch trái kết quả là làm tăng lãi suất
i : Lãi suất của trái khoán
Q: số lợng của trái khoán
Đờng cầu trái khoán dịch chuyển
từ D
b
->D
b
làm cho lãi suất tăng
từ i
1
-_ i
2
Với các chủ thể tham gia thị trờng tài chính hay cũng giống nh bất cứ chủ
thể kinh doanh trên các thị trờng khác, câu hỏi đặt ra là sau một thời gian nhất
định số của cải rời khỏi tay họ có quay trở về với quy mô lớn hơn hay chi ít
cũng còn nguyên vẹn giá trị hay không? Nh vậy là họ có thể tìm kiếm đợc một
đối tác có thể tin cậy đợc, có nguồn lực đủ mạnh để thanh toán khoản tiền đã
chuyển cho anh ta trong việc phát hành các công cụ tài chính, chủ thể phát hành
có vị trí quan trọng. Thông thờng nhà nớc đợc coi là đối tác làm ăn tin cậy nhất
vì đó là ngời nắm pháp luật trong tay và có nguồn ngân sách khổng lồ. Nhng có
ai dám mua trái phiếu chính phủ Mêxicô sau khi nớc này tuyên bố không trả
các món nợ quốc tế trong cuộc khủng hoảng vào năm 1994. Dân chúng có dám
bỏ tiền ngay cho chính chính phủ của tân tổng sau khi ông này lật đổ vị tổng
thống cũ Môbutu của nớc Zaie - quốc gia châu Phi liên tục xảy ra các cuộc nội
chiến. Nhng đây chỉ là những trờng hợp hiếm khi xảy ra với các nớc kinh tế
vững mạnh, chính trị ổn định nh Mỹ, Anh, Nhật Bản, Đức thống nhất thì khả
năng chính phủ không thanh toán các khoản nợ là không xảy ra.
Với từng công cụ tài chính cụ thể, coi là ngời phát hành có tính chất quyết
định đến lãi suất, thông thờng thì lãi suất của các công cụ tài chính do chính
phủ phát hành sẽ thấp hơn các công cụ do công ty phát hành.
1.2. Kỳ hạn của các công cụ tài chính
Theo trình bày ở trên thì thị trờng hiện nay chủng loại các công cụ tài
chính thật đa dạng. Xét về kỳ hạn thì các công cụ tài chính trên thị trờng tiền tệ
có kỳ hạn ngắn nhất chỉ trên dới một năm, còn trên thị trờng vốn thì kỳ hạn dài
hơn.
7
i%
D
b
D
b
i
1
E
2
E
1
i
2
S
b
0
QQ
2
Q
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Kỳ hạn của công chúng có rất nhiều loại tùy theo từng đợt phát hành với
trái phiếu công ty kỳ hạn thông thờng là 5,10,20 năm hay thậm chí đến 30 hay
50 năm.
Trong thực tế lãi suất của các
công cụ tài chính có kỳ hạn khác nhau
thì mang lại lãi suất khác nhau và các
công cụ ngắn hạn thờng có lãi suất cao
hơn các công cụ ngắn hạn nh hình vẽ
bên:
Nói tóm lại câu hỏi đặt ra ở phần này: nhân tố kỳ hạn ảnh hởng tới lãi suất
của công cụ tài chính nh thế nào?
Đây là câu hỏi không dễ trả lời, đã có một số lý thuyết đợc đa ra để giải
thích vấn đề này. Các lý thuyết đa ra thờng gặp trở ngại: Nếu giải thích đợc đ-
ờng cong lãi suất thì không giải thích đợc tại sao lãi suất các công cụ ngắn hạn
thay đổi khi các công cụ dài hạn có xu hớng thay đổi theo.
Theo lý thuyết về giả thuyết dự tính đa ra quan điểm: lãi suất của một
trái khoán dài hạn sẽ bằng trung bình của lãi suất ngắn hạn mà dân chúng dự
tính trong thời gian tồn tại của trái khoán dài hạn đó. Do vậy lý thuyết này đã
thành công trong việc giải thích tại sao lãi suất các công cụ ngắn hạn, dài hạn
lại thay đổi phụ thuộc lẫn nhau.
Theo lý thuyết thị trờng phân cách đúng nh thế gọi của nó cho rằng lãi
suất xác định cho một công cụ nào đó đợc xác định bằng cung cầu với trái
khoán kỳ hạn đó và không chịu tác dụng của những kỳ hạn đó, tức là những trái
khoán không phải là những hàng hóa thay thế cho nhau. Lý thuyết này đợc bổ
sung thêm một giả thiết nữa là ngời ta thờng u tiên cho những khoản đầu t ngắn
hạn hơn, lý thuyết này đã thành công trong giải thích đờng cong lãi suất thờng
dốc lên phía trên.
Lý thuyết môi trờng u tiên đã khắc phục đợc nhợc điểm của hai lý thuyết
trên bằng cách cho rằng lãi suất của một trái khoán dài hạn sẽ bằng trung bình
của những lãi suất ngắn hạn đợc trông đợi xuất hiện trong thời gian tồn tại của
trái khoán dài hạn đó cộng với mức bù hạn kỳ, mức bù này ứng với hạn kỳ trái
khoán đó.
Do đó chúng ta thấy rằng lý
thuyết môi trờng u tiên là tổng hợp của
2 lý thuyết trên và nó cũng đã đa ra
8
L i suất ã
hoàn vốn
Theo kỳ thanh toán
L i suất ã
hoàn vốn
0
0
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
các giải thích tại sao trong thực tế các
đờng lãi suất lại có các chiều dốc khác
nhau:
Cơ sở của việc giải thích dựa vào hai giả thiết: Dân chúng dự đoán rằng lãi
xuất của các trái khoán ngắn hạn trong tơng lai có trung bình thấp hơn mức lãi
suất ngắn hạn hiện hành nhng lại lớn hơn cả mức bù kỳ hạn. Do đó đờng lãi
suất có dạng nh trên.
* Liên hệ ở Việt Nam
ở nớc ta hiện nay mối liên hệ giữa kỳ hạn của một số công cụ tín dụng, cụ
thể là lãi suất tiền gửi đợc công bố bởi ngân hàng Viêtcombank nh sau:
Kỳ hạn Lãi suất
3 tháng 0,6%
6 tháng 0,65%
Không kỳ hạn 0,4%
Hiện nay kho bạc nhà nớc ta cũng đang phát hành loại trái phiếu kho bạc
nhà nớc kỳ hạn 2 năm lãi suất 12%.
Nh vậy là trái phiếu kho bạc nhà nớc đã phát hành loại công cụ có kỳ hạn
dài hơn và lãi suất cao hơn so với các chứng chỉ tiền gửi ở trên, điều này hoàn
toàn phù hợp với lý thuyết đã phân tích ở trên. Nếu xem xét ngânhàng là ngời
cho vay thì trớc năm 1996, lãi suất cho vay giữa ngắn hạn và dài hạn hoàn toàn
khác với lý thuyết trên, lãi suất cho vay dài hạn nhỏ hơn cho vay ngắn hạn. Tuy
nhiên hiện nay đã đợc điều chỉnh lại, đây là chuyển biến tích cực khuyến khích
các ngân hàng thơng mại mạnh dạn hơn trong việc huy động vôn cho vay trong
dài hạn.
ở Việt Nam thị trờng tài chính cha phát triển và ta cũng cha có thị trờng
chứng khoán. Do đó trên thị trờng tài chính thiếu vắng các công cụ tài chính
trung và dài hạn. Với ngời dân Việt Nam hay cũng giống nh ngời dân ở các nớc
khác trên thế giới thật khó mà kiên trì đợi đến 5 năm hay 10 năm để thu hồi
khoản vốn cho vay. Có nghĩa rằng ở nớc ta hiện nay thông thờng thì lãi suất
hoàn vốn đúng bằng mức lợi tức hay là ngời dân sẽ gửi nó trong suốt thời hạn.
Mặt khác ở nớc ta vừa thoát ra khỏi lạm phát thì lại phát hành các công cụ tài
9
Hạn kỳ thanh toán
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chính dài hạn chúng cha có tính khả thi vì nhân dân còn nghi ngại lạm phát có
thể hoành hành trở lại.
1.3. Khả năng chuyển đổi (độ linh động - tính lỏng)
Tính linh động của một tài sản phản ánh khả năng và mức độ thuận tiện để
chuyển tài sản đó thành tiền.
Với các công cụ tài chính lỏng của mỗi loại là khác nhau. Trên thị trờng
tài chính ngời ta dễ dàng. Khi quyết định mua một trái phiếu của chính phủ và
băn khoăn khi quyết định mua một lô cổ phiếu của một công ty nào đó. Lý do
là vì với trái phiếu chính phủ khoản lợi họ nhìn thấy rõ ràng hơn so với cổ phiếu
bởi vì trong thơng trờng có sự giám chắc rằng năm nay công ty đó làm ai đó lãi
hay không.
Tính lỏng của công cụ tài chính còn thể hiện ở chỗ thị trờng của công cụ
đó có lớn hay không? Hoạt động có nhộn nhịp hay không? Nếu có thì chúng ta
dễ dàng bán công cụ trong tay ngời khác trên thị trờng rộng lớn đó đang có nhu
cầu cần loại công cụ này. Và với một nhà đầu t, có những lúc họ cần chuyển
một số công cụ mà họ nắm giữ sang tiền để lo liệu một công việc đang cần thiết
mặc dầu trái khoán của họ đang sinh lợi.
Để xử lý những trờng hợp nh thế rõ ràng là các trái khoán trong tay họ
phải có tính lỏng do vậy sẽ đợc a thích hơn.
Và cái giá phải trả cho sự a thích của họ là họ sẽ nhận đợc một lãi suất
thấp hơn do đờng cầu dịch sang phải do số ngời a thích tăng lên (nh hình vẽ).
Đờng cầu dịch từ D
b
-> D
b
làm cho lãi suất giảm từ i
1
->i
2
1.4. Thuế thu nhập
Một yếu tố ra đời ngay khi công cụ tài chính đợc là nhà nớc sẽ áp dụng
một thuế suất thu nhập với nó. Thuế này quy định một tỷ lệ nhất định khoản thu
10
L i suấtã
i%
D
b
D
b
E
2
E
1
i
1
S
b
i
2
Số lợng trái khoán
Q
2
Q
1
0
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhập mà ngời sở hữu phải nộp cho nhà nớc. Thuế suất áp dụng cho các loại
công cụ khác nhau là không giống nhau tùy thuộc vào mục tiêu của nhà nớc.
Rõ ràng đứng dới góc độ này thì nhà nớc giữ vai trò quan trọng trong các
nhân tố ảnh hởng. Nếu xem xét các yếu tố khác là nh nhau thì quyết định mua
công cụ nào cha hẳn đã phụ thuộc vào lãi suất mà ngời sở hữu đó thu đợc.
Chúng ta sẽ chọn loại công cụ này hàng năm đem lại cho ta 100$ tiền lãi nhng
ta phải nộp 30$ hay sẽ chọn 90$ với khoản nộp vào ngân sách 10$.
Kết quả là chính sách thuế của nhà nớc trong một số trờng hợp sẽ làm
công chúng a thích hay tẩy chay một loại công cụ nào đó do vậy cầu sẽ tăng
hay giảm làm cho lãi suất thay đổi.
* Sức hấp hẫn của các công cụ tài chính khác
Cũng giống nh các loại hàng hóa khác cầu của một trái khoán nhất định sẽ
phụ thuộc vào sức hấp dẫn của các loại trái khoán khác, tức là sẽ chịu ảnh hởng
của hàng hóa thay thế. Hiệu ứng của việc các cônt ty đổ bể sẽ chuyển nguồn
vốn của công chúng vào việc mua sắm các trái khoán của chính phủ có độ tin
cậy cao hơn.
Trong phân tích các nhân tố nội tại nếu xét chi tiết từng loại công cụ riêng
biệt thì mỗi đặc điểm riêng của nó cũng gây ra mức lãi suất khác nhau. Nhất
định là ngời mua trái phiếu của công ty có tài sản làm đảm bảo sẽ đợc nhận
mức lãi suất thấp hơn loại không có tài sản đảm bảo, trái phiếu có khả năng
chuyển đổi và trái phiếu thông thờng của công ty sẽ nhận đợc lãi suất tơng tự.
Có thể coi lãi suất do nhà nớc công bố với các trái khoán của mình cũng là
một loại hàng hóa thay thế.
Mặt khác thì nó cũng chịu ảnh hởng của hàng hóa bổ sung. Trong một số
trờng hợp khi phát hành cổ phiếu, công ty sẽ khuyến khích ngời mua sách bán
cho họ một chứng quyền đặt mua (Rights). Đó là một quyền u đãi mà công ty
cho các cổ đông của mình đợc hởng để mua cổ phiếu mới tỷ lệ thuận với số cổ
phiếu mà họ đang nắm giữ. Khi phát hành họ sẽ đợc mua với giá u đãi. Rõ ràng
là kỳ vọng thu đợc nhiều lợi tức hơn trong nghiệp vụ này của công chúng sẽ làm
cho cầu của trái phiếu tăng lên và lãi suất sẽ giảm.
2. Các yếu tố kinh tế chung
Hoạt động mua bán trao đổi các công cụ tài chính xét về bản chất thìnó
hoạt động đáp ứng và điều hòa vốn cho nền kinh tế. Trong điều kiện nào thì nền
kinh tế mới hấp thụ tốt đợc nguồn vốn, có nhà kinh doanh nào dám bỏ vốn ra
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trong thời kỳ nền kinh tế đang suy thoái, sản phẩm đang ế thừa trên thị trờng.
Nói tóm lại là hoạt động của thị trờng tài chính phải phụ thuộc vào cả nhu cầu
về vốn đầu t và khả năng cung ứng. Vậy trong tổng thể nền kinh tế có những
nhân tố nào ảnh hởng tới lãi suất của các công cụ tài chính.
2.1. Các biến số vĩ mô
Lạm phát là một khái niệm của kinh tế học chỉ sự tăng giá trung bình của
hàng hóa theo thời gian. Khái niệm lạm phát thuần túy là trờng hợp tất cả các
giá cả của hàng hóa và các yếu tố sản xuất tăng theo cung f một tỷ lệ phần trăm.
Tuy nhiên đây là trờng hợp hiếm khi xảy ra.
Lạm phát là căn bệnh kinh niên của nền kinh tế xảy ra trầm trọng trong
thời kỳ có khủng hoảng. Một ví dụ điển hình nh lạm phát năm 1987 ở Braxin
230%, Mêxicô 130% trong lịch sử đã diễn ra siêu lạm phát ở Đức từ tháng
giêng đến tháng 10 năm 1923 khi Đức thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới
lần thứ nhất giá cả đã tăng 191.891,890 lần, con số khủng khiếp. Gần đây là
Nam T đồng tiền mất giá đến mức trẻ em mang chúng ra dán diều làm đồ chơi.
Hậu quả của lạm phát ai cũng thấy rõ, chính vì thế mà trong những năm 1980
tổng thống Reagan, bà Thatcher, thủ tớng H. Cohl và nhiều nhà lãnh đạo quốc
gia khác đã gọi lạm phát là kẻ thù chung số 1, đẩy lùi lạm phát là u tiên hàng
đầu.
Lạm phát và lãi suất là biến số luôn đi song hành với nhau. Thực tế ở Việt
Nam đã chứng minh điều đó, vào cuối những năm 1980 khi lạm phát ở nớc ta
lên đến mức hai con số thì lãi suất đợc NHTW công bố lên đến 10% tháng. Vào
thời điểm hiện nay thì lạm phát đã đợc đẩy lùi chỉ số lạm phát 9 tháng đầu năm
1997 là 2%.
Với một nhà đầu t trên thị trờng tài chính hay nói đúng hơn là ngời cho
vay, ngời ta quan tâm đến lãi suất thực của các công cụ tài chính chứ không
phải là các lãi suất đợc công bố, lãi suất thực là lãi suất đã tính đến yếu tố lạm
phát và đợc xác định bởi:
r = 1- f i: lãi suất danh nghĩa
r: lãi suất thực
f: tỉ lệ lạm phát
Mặc dầu đợc mời chào với lãi suất hấp dẫn là 15% một năm nhng không ai
muốn mua công cụ tài chính đó nếu lãi suất hiện tại là 20% năm và có nguy cơ
ngày càng tăng cao.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Từ phơng trình trên để cho r >0 thì i>f. Do vậy để hấp dẫn khách hàng thì
lãi suất danh nghĩa khi phát hành là một loại công cụ phải lớn hơn tỷ lệ lạm
phát hiện hành.
Do vậy có thể khẳng định rằng trong các biến số vĩ mô thì lạm phát là
nhân tố quan trọng hàng đầu ảnh hởng đến lãi suất.
2.2. Tăng trởng kinh tế và thất nghiệp
Các nhà kinh tế tham dự cuộc hội thảo do ngân hàng châu á (ADB) tổ
chức tại Manina (Philipin) tháng 10 năm 1997 đã đi đến kết luận là khủng
hoảng tài chính tiền tệ ở Đông nam á sẽ làm giảm tốc độ tăng trởng kinh tế của
các nớc trong 3 năm hay cũng đồng thời dự báo với quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
cho rằng tốc độ tăng trởng kinh tế ở các nớc Đông nam á sẽ chỉ đạt từ 3-4%
trong 2 năm 1997 và 1998. Kết quả đã làm cho một ố dòng đầu t dự định vào
khu vực này đã đổi hớng sang Mỹ La tinh đang đợc coi là khu vực kinh tế mới
nổi. Dự đoán này làm cho thị trờng tài chính khu vực kém sôi động, giá cả các
loại cổ phiếu, trái phiếu sụt giảm mặc dầu còn nhiều nguyên nhân khác.
Tăng trởng kinh tế đợc hiểu là sự gia tăng quy mô của sản xuất và dịch vụ
trong nền kinh tế.
Tốc độ tăng trởng là mức tăng % hàng năm của biến số này. Nh vậy tốc độ
phản ánh diễn biến kinh tế của giai đoạn hiện tại và dự đoán sức khỏe của nền
kinh tế trong tơng lai. Nếu tốc độ tăng trởng cao thì cơ hội thu lợi nhuận sẽ lớn
các nhà đầu t tin vào tơng lai sáng sủa của nền kinh tế và mở rộng đầu t nhu cầu
về vốn sẽ lớn nâng lãi suất lên cao.
Câu hỏi đặt ra là tại sao trong thời gian qua từ 1991 đến nay ở Việt Nam
tốc độ tăng trởng kinh tế có xu hớng tăng lên đến 8-9% mà lãi suất không
ngừng đợc điều chỉnh theo xu hớng giảm xuống. Câu hỏi này có thể đợc trả lời
dới nhiều góc độ trớc hết là lạm phát phi mã đợc đẩy lùi, mặt khác là từ khi
ngân hàng nớc ta thực hiện chế độ ngân hàng hai cấp vào năm 1991 với chính
sách mở của nền kinh tế xuất hiện một số chi nhánh ngân hàng nớc ngoài làm
cho thị trờng tài chính nớc ta bớc đầu tiếp cận đợc với thị trờng tài chính quốc tế
làm lãi suất của ta gần với lãi suất quốc tế hơn (hiện nay khoảng 8,2%/năm).
Tăng trởng kinh tế có liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ thất
nghiệp là số % số ngời thất nghiệp so với tổng số ngời trong lực lợng lao động.
Ngời thất nghiệp đợc hiểu là ngời có khả năng và sẵn sàng làm việc ở một mức
lơng nhất định nhng không kiếm đựơc việc làm. Khi thất nghiệp ở mức cao sản
xuất sút kém tài nguyên không đợc sử dụng hết thu nhập dân c giảm sút. Nạn
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thất nghiệp là vấn đề nan giải của mọi quốc gia có nền kinh tế thị trờng. Một
điều hiển nhiên là tỷ lệ thất nghiệp cao làm cho một số ngời thu nhập, có nhu
cầu đầu t vốn giảm xuống ảnh hởng một phần tới cung về vốn hay về cầu trái
khoán.
2.3. Tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái nếu hiểu theo nghĩa rộng là số đồng nội tệ cần thiết để
mua một đồng ngoại tệ thì khi tỷ giá hối đoái tăng lên cao thì nhà đầu t cảm
thấy trái phiếu của họ ở các nớc láng giềng giữ giá cao hơn và ngợc lại khi tỷ
giá hối đoái xuống thấp thì của cải của họ đầu t vào các thị trờng tài chính nớc
ngoài dờng nh bị mất giá trị. Do đó đây là một trong những cơ sở để xác định
trái khoán của quốc gia này có hấp dẫn công chúng của quốc gia khác hay
không là nguyên nhân dịch chuyển đờng cầu trái khoán do đó ảnh hởng tới lãi
suất.
Tuy nhiên sự thay đổi quá lớn trong tỷ giá hối đoái cũng sẽ làm cho
những nhà đầu t nớc ngoài cảm thấy yên tâm vì tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hởng tới
cả nền kinh tế nơi mà họ đang có ý định mua trái khoán trên thị trờng tài chính
nớc này. Sự sụt giảm giá trị đồng tiền ở hàng loạt các quốc gia Đông Nam á
thời gian quâ đã khiến ngời ta lầm tởng đến nền kinh tế địa ốc bong bóng xà
phòng của Nhật Bản vào đầu những năm 80. Giờ đây các nhà đầu t nớc ngoài
sẽ ngần ngại hơn khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu, trái phiếu của các quốc gia Đông
Nam á so với thời kỳ trớc khủng hoảng tài chính tiền tệ.
ở Việt Nam khi ngân hàng nhà nớc nới rộng biên độ giao động của VND
so với USD từ 5% lên 10% gía thị trờng chợ đen có lúc lên tới 13500
VND/USD khiến cho các doanh nghiệp ở ta lúng túng không biết nên vay bằng
VND hay USD. Rõ ràng là tỷ giá hối đoái đã ảnh hởng lớn đến quyết định vay ở
đâu, các ngân hàng quốc doanh hay các ngân hàng nớc ngoài.
2.4. Triển vọng và các lĩnh vực của nền kinh tế.
Trong thực tế khó có quốc gia nào liên tục giữ vững tốc độ tăng trởng một
cách đều đặn vì có một nhân tố mang tính qui luật đợc các nhà kinh tế học gọi
là chu kỳ kinh doanh (The bussiness cycb). Chu kỳ kinh doanh đợc biểu diễn
trên đồ thị sau:
14
C
Tốc độ tăng trởng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét