Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Một số vấn đề của pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam

Từ những đặc điểm trên, có thể thấy chứng khoán là một loại hàng hoá
khác hẳn với các loại thông thường khác. Hiểu rõ những đặc điểm của chứng
khoán có thể dễ dàng giúp chúng ta tìm hiểu những lĩnh vực liên quan đến
chứng khoán nói chung và chào bán chứng khoán nói riêng.
1.3. Phân loại chứng khoán
Giống như các loại hàng hoá khác, chứng khoán rất đa dạng, phong phú
về chủng loại và hình thức. Để phân loại chứng khoán người ta thường dựa vào
một số tiêu chí khác nhau như:
Căn cứ vào chủ thể phát hành, chứng khoán gồm hai loại: chứng khoán
của doanh nghiệp và chứng khoán của Chính phủ. Việc phân loại này là nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư lựa chọn loại chứng khoán cho phù hợp
với yêu cầu của mình.
Căn cứ vào bản chất, chứng khoán gồm hai loại: chứng khoán vốn và
chứng khoán nợ. Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận sự góp vốn và
quyền liên quan của người sở hữu đối với đối tượng phát hành ra nó. Chứng
khoán nợ là loại chứng khoán theo đó chủ thể phát hành cam kết sẽ trả lại cả gốc
lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Mục đích của việc phân loại này là xác định
rõ quyền tài sản của chủ sở hữu chứng khoán đối với tổ chức phát hành.
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chủ thể phát hành và chủ sở hữu chứng
khoán có: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và một số chứng khoán phái
sinh như chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai.
Đây là cách phân loại phổ biến và thông dụng hiện nay vì nó thể hiện được đặc
trưng của chứng khoán theo tiêu chí phân loại nói trên.
- Cổ phiếu: Đây là loại chứng khoán rất quan trọng cho việc tạo lập cũng
như đi vào hoạt động của thị trường chứng khoán. Có nhiều định nghĩa khác
nhau về cổ phiếu. Theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam: “cổ phiếu
là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối
với một phần vốn góp cổ phần của tổ chức phát hành” [ 8.1]. Trong thực tế,
thường có nhiều loại cổ phiếu như cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi trong đó
cổ phiếu ưu đãi được chia thành nhiều lại cho nhà đầu tư những khả năng lựa
chọn đồng thời tạo cơ hội cạnh tranh cho tổ chức phát hành.
- Trái phiếu: Đây là chứng khoán nợ do doanh nghiệp hoặc Chính phủ
phát hành xác nhận quyền của chủ sở hữu đối với khoản nợ của chủ thể đó.
Khoản nợ được tổ chức phát hành cam kết trả lại cho chủ sở hữu tại một thời
điểm trong tương lai với một khoản lãi nhất định. Trái phiếu cũng có nhiều loại
như trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa
phương.
Trái phiếu và cổ phiếu là hai loại chứng khoán phổ biến nhất hiện nay.
Mỗi loại có một ưu thế riêng, đem lại cho nhà đầu tư những khả năng lựa chọn
để phù hợp với nhu cầu của mình. Trái phiếu và cổ phiếu khác nhau ở một số
điểm sau đây:
Thứ nhất, về bản chất, nếu như cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn thì
trái phiếu lại là chứng khoán nợ. Cổ phiếu xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu đối với phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành còn trái phiếu
xác nhận quyền và lợi ích của chủ sở hữu đối với phần vốn nợ. Như vậy chủ sở
hữu cổ phiếu là cổ đông của tổ chức phát hành còn chủ sở hữu trái phiếu là chủ
nợ của tổ chức đó. Hệ quả là cổ đông có thể tham gia vào việc quản lý điều hành
doanh nghiệp còn chủ nợ thì không có quyền này.
Thứ hai, về tính sinh lời, cổ phiếu có tính sinh lời cao hơn trái phiếu. Điều
này xuất phát từ bản chất của hai loại chứng khoán này. Cổ phiếu là chứng
khoán xác nhận phần vốn cổ phần vì vậy mà khả năng đem lại một khoản thu
nhập phụ thuộc trực tiếp vào tình hình sản xuất kinh doanh của chủ thể phát
hành. Một doanh nghiệp “ăn nên làm ra” “lãi mẹ đẻ lãi con” thì cổ phiếu của
doanh nghiệp đó có giá rất cao, người sở hữu cổ phiếu có thể thu được một
khoản tiền khá lớn. Trái lại khả năng sinh lời của trái phiếu bao giờ cũng ở một
mức nhất định và khoản tiền này thường không đáng kể.
Thứ ba, về tính thanh khoản. Xuất phát từ tính sinh lời, cổ phiếu có tính
sinh lời cao hơn trái phiếu nên nó cũng có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt
nhanh hơn.
Thứ tư, về tính rủi ro. Cổ phiếu có tính rủi ro cao hơn trái phiếu. Chỉ cần
một biến động nhỏ của thị trường cũng có thể khiến giá cổ phiếu giảm mạnh,
thậm chí là vài lần. Trong khi đó, lãi suất của trái phiếu luôn là một tỷ lệ nhất
định so với mệnh giá.
Thứ năm, về tính thời hạn. Nếu cổ phiếu có tính dài hạn thì thời hạn của
trái phiếu là ngắn hơn. Thông thường kỳ hạn của trái phiếu Chính phủ và chính
quyền địa phương là năm năm
- Chứng chỉ quỹ đầu tư: Đây là một loại chứng khoán đặc biệt. Theo quy
định của pháp luật nước ta, đây là loại “chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích
hợp pháp của nhà đầu tư đối với phần vốn góp của quỹ đại chúng”[8.1]. Chứng
chỉ quỹ cũng có một số đặc điểm giống cổ phiếu và trái phiếu, tuy nhiên nó lại
không tham gia vào việc hình thành vốn của doanh nghiệp. Đồng thời chủ sở
hữu chứng chỉ quỹ không được tham gia vào việc quản lý, điều hành quỹ. Pháp
luật của các quốc gia khác nhau có những quy định khác nhau về chứng chỉ quỹ
và công ty quản lý quỹ nên quyền và lợi ích của chủ sở hữu là khác nhau. Tuy
nhiên về bản chất, chứng chỉ quỹ luôn là một loại chứng khoán vốn.
Ngoài ba loại chứng khoán chủ yếu trên còn có các loại chứng khoán phái
sinh. Đây là loại chứng khoán phát sinh từ hoạt động giao dịch chứng khoán và
được chuyển đổi sang chứng khoán thông qua hành vi giao dịch trên thị trường.
Hiện nay có ba loại chứng khoán phái sinh phổ biến là chứng quyền, bảo chứng
phiếu, hợp đồng quyền lựa chọn. Tại Việt Nam, theo Luật Chứng Khoán 2006
có một số loại chứng khoán phái sinh như: chứng quyền, quyền mua cổ phần,
quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai [8.1].
1.4. Vai trò của chứng khoán
Trong điều kiện ngày nay, chứng khoán ngày càng đóng vai trò quan
trọng, cần thiết đối với nền kinh tế nói chung cũng như tổ chức phát hành và nhà
đầu tư nói riêng.
Trước hết, đối với nhà đầu tư. Đây là chủ thể chịu tác động trực tiếp nhất
của chứng khoán. Khi một loại chứng khoán tăng giá họ sẽ là người đầu tiên
được hưởng khoản chênh lệch. Nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán
nhằm thoả mãn nhu cầu về kinh tế hoặc tham gia quản lý điều hành. Như vậy,
chứng khoán chính là công cụ đáp ứng nhu cầu đó. Bằng việc mua, bán, trao
đổi chứng khoán mà đặc biệt là cổ phiếu, nhà đầu tư thu được một khoản lợi
nhuận. Bên cạnh việc thoả mãn nhu cầu lợi nhuận, thông qua chứng khoán, nhà
đầu tư cũng có thể tham gia vào việc quản lý điều hành doanh nghiệp, khi họ sở
hữu một số lượng cổ phiếu phổ thông nhất định. Tuỳ thuộc vào nhu cầu cũng
như ưu thế của từng loại chứng khoán mà những người này có thể đầu tư vào cổ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư.
Đối với tổ chức phát hành. Đây chính là những chủ thể có nhu cầu huy
động vốn. Tổ chức phát hành có thể là các doanh nghiệp bao gồm công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; các tổ chức tín dụng; công ty nhà nước trong
thời gian chuyển đổi thành công ty cổ phần; Chính phủ; chính quyền địa
phương. Doanh nghiệp có thể chào bán chứng khoán để tạo lập vốn điều lệ hoặc
để tăng vốn điều lệ, đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. Với Chính phủ và chính quyền địa phương, khi có nhu cầu bù đắp bội chi
ngân sách hoặc phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển, những chủ thể này có thể
phát hành trái phiếu. Đó là trái phiếu Chính phủ và trái phiếu chính quyền địa
phương, tương ứng với từng cấp. Như vậy, chứng khoán là công cụ đắc lực hỗ
trợ cho nguồn vốn của doanh nghiệp và ngân sách Nhà nước.
Đối với nền kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế chuyển đổi, từ
chế độ bao cấp sang kinh tế thị trường, nhu cầu về vốn càng trở nên bức thiết.
Trong khi đó chứng khoán giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc huy động
nguồn vốn trung và dài hạn. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì không
nơi nào có khả năng thu hút vốn nhanh và mạnh như thị trường chứng khoán.
Chính vì vậy chứng khoán tồn tại như một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị
trường. Bên cạnh chức năng đó, chứng khoán và thị trường chứng khoán còn tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp cải thiện hệ thống tài chính và quản trị theo
thông lệ quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh. Chứng khoán cũng chính là một
trong những công cụ thực hiện chuyển đổi doanh nghiệp. Bằng việc cho phép
các công ty nhà nước phát hành cổ phiếu để chuyển đổi thành công ty cổ phần.
2. Chào bán chứng khoán
2.1. Khái niệm về chào bán chứng khoán
Như trên đã nói, thị trường chứng khoán là nơi thu hút vốn nhanh và
mạnh nhất. Để huy động nguồn vốn đó trên thị trường này, các doanh nghiệp và
các chủ thể buộc phải chào bán chứng khoán, đưa chứng khoán ra thị trường, đổi
lại họ thu được vốn. Chào bán chứng khoán là giai đoạn đầu, là tiền đề để thực
hiện các hành vi sau này liên quan đến chứng khoán. Như vậy không có chào
bán chứng khoán thì sẽ không có những hoạt động như kinh doanh chứng
khoán, môi giới chứng khoán hay lưu ký chứng khoán.
Chào bán chứng khoán được hiểu là việc đưa chứng khoán vào giao dịch
tại thị trường chứng khoán sơ cấp. Tại đây vốn của nhà đầu tư sẽ được chuyển
giao cho tổ chức chào bán thông qua việc nhà đầu tư mua chứng khoán. Phải nói
rằng chỉ có hoạt động chào bán mới làm tăng hàng hoá cho thị trường chứng
khoán. Hơn thế, thông qua hoạt động chào bán, tổ chức chào bán mới có thể
thành lập, tăng vốn điều lệ phục vụ nhu cầu kinh doanh hoặc bù đắp sự thiếu hụt
tạm thời của ngân sách nhà nước.
Chào bán chứng khoán là tiền đề của các hoạt động khác liên quan đến
chứng khoán. Nếu so sánh chào bán chứng khoán và kinh doanh chứng khoán có
thể thấy một số điểm khác biệt sau. Hoạt động chào bán chứng khoán chỉ diễn ra
trên thị trường sơ cấp trong khi kinh doanh chứng khoán lại chỉ diễn ra trên thị
trường thứ cấp. Nếu như hoạt động kinh doanh chứng khoán có đối tượng là
chứng khoán cùng các dịch vụ khác liên quan đến chứng khoán thì hoạt động
chào bán chứng khoán có đối tượng là chứng khoán. Đây cũng chính là những
đặc điểm đặc thù của chào bán chứng khoán.
Tóm lại chào bán chứng khoán chính là việc tổ chức chào bán có đủ điều
kiện đưa chứng khoán vào thị trường theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định.
Hoạt động này giúp các tổ chức chào bán dễ dàng huy động vốn với chi phí
thấp hơn các hình thức khác.
2.2. Phương thức chào bán chứng khoán
Phương thức chào bán chứng khoán là những cách thức để đưa chứng
khoán từ tổ chức chào bán đến tay nhà đầu tư. Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau
mà có thể có những phương thức chào bán khác nhau.
Xét theo cách thức phân phối chứng khoán, có bốn phương thức chào bán
chứng khoán:
Thứ nhất, phương thức bán trực tiếp. Theo phương thức này, tổ chức chào
bán chứng khoán đến tay nhà đầu tư. Mặc dù thông qua phương thức này người
đầu tư được trực tiếp mua chứng khoán, chi phí trung gian thấp nhưng lại không
xác định được tổng lượng chứng khoán bán ra và vì thế mục tiêu huy động vốn
không đạt được.
Thứ hai, phương thức bán thông qua đại lý. Theo đó, các tổ chức trung
gian- bên nhận đại lý- sẽ ký kết hợp đồng với tổ chức chào bán để bán chứng
khoán của họ trên thị trường sơ cấp. Bên nhận đại lý có thể là các ngân hàng
thương mại, các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm. Các đơn vị này sẽ
được hưởng hoa hồng theo tỷ lệ thoả thuận trên tổng lượng chứng khoán bán
được. Ưu điểm của phương thức này là chứng khoán được bán với số lượng
nhiều hơn. Tuy nhiên tổ chức chào bán lại phải trả một khoản phí trung gian.
Thứ ba, phương thức bán thông qua đấu thầu. Theo đó, có một hoặc một
số nhà thầu được lựa chọn, cam kết sẽ phân phối hết số chứng khoán với điều
kiện nhà thầu được hưởng một tỷ lệ phần trăm nhất định theo kết quả của đợt
chào bán. Với phương thức này, tổ chức chào bán sẽ đạt được mục tiêu huy
động vốn trong một thời gian ngắn nhưng đổi lại, họ phải chịu một khoản phí
trung gian cao. Tuy vậy, phương thức bán thông qua đấu thầu đặc biệt thích hợp
với việc phát hành tín phiếu.
Thứ tư, phương thức bảo lãnh phát hành. Theo phương thức này có một
hoặc một số tổ chức bảo lãnh sẽ đứng ra giúp tổ chức chào bán thực hiện các thủ
tục trước khi chào bán chứng khoán. Sau đó tổ chức bảo lãnh nhận mua số
chứng khoán để bán lại hoặc nhận mua số chứng khoán còn lại sau đợt phát
hành. Hiện nay các ngân hàng đầu tư thường đứng ra bảo lãnh phát hành. Ưu
điểm của bảo lãnh phát hành là tổ chức chào bán đảm bảo huy động được nguồn
vốn theo nhu cầu. Tuy nhiên tổ chức chào bán phải trả cho tổ chức bảo lãnh một
khoản chi phí trung gian.
Xét theo điều kiện được chào bán trên thị trường sơ cấp, có hai phương
thức phát hành:
Thứ nhất, chào bán riêng lẻ. Chào bán riêng lẻ là phương thức chào bán
chứng khoán trong đó chỉ một số lượng nhà đầu tư nhất định được mua với
những điều kiện hạn chế, không tiến hành rộng rãi ra công chúng và tổ chức
chào bán không phải công khai thông tin. Người bán có thể thực hiện các hành
vi mời chào một số nhà đầu tư nhất định để nhằm đáp ứng được tốt nhất nhu
cầu vốn của mình trước khi phát hành chứng khoán. Phương thức chào bán
chứng khoán riêng lẻ thường được áp dụng khi doanh nghiệp cần huy động
nguồn vốn không lớn mà lại không đáp ứng các điều kiện của chào bán chứng
khoán ra công chúng.
Thứ hai, chào bán chứng khoán ra công chúng. Đây là hình thức chào bán
chứng khoán rộng rãi đến đại bộ phận công chúng đầu tư. Theo quy định chung
của các nước trên thế giới việc chào bán chứng khoán ra công chúng phải tuân
thủ một số điều kiện nhất định như điều kiện về mức vốn, nghĩa vụ công bố
thông tin, đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và phải được
sự chấp thuận của cơ quan này. Ưu điểm của phương thức này là huy động được
nguồn vốn lớn. Thêm nữa, do chứng khoán chào bán ra công chúng được niêm
yết tại thị trường tập trung nên có khả năng thanh khoản cao hơn nhiều so với
chứng khoán được chào bán riêng lẻ. Đồng thời phương thức này cũng giúp tổ
chức chào bán quảng bá được tên tuổi, hình ảnh, uy tín trên các phương tiện
truyền thông từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh và cơ hội kinh doanh.
Việc quy định hai phương thức trên là rất phổ biến hiện nay. Mục đích
phân biệt hai hình thức chào bán chứng khoán như trên trước hết là để quản lý
hoạt động này qua đó bảo vệ công chúng đầu tư nhất là những nhà đầu tư nhỏ
không có kiến thức chuyên sâu. Bởi vì để chào bán chứng khoán ra công chúng,
tổ chức chào bán phải là những công ty làm ăn có hiệu quả đáp ứng yêu cầu do
Uỷ ban chứng khoán nhà nước quy định. Mặt khác việc phân biệt như trên còn
nhằm xác định phạm vi thị trường của các loại chứng khoán đồng thời là điều
kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn, công khai và có hiệu quả,
2.3. Vai trò của hoạt động chào bán chứng khoán
So với kênh huy động vốn qua ngân hàng thương mại hay các định chế
cho thuê tài chính, việc huy động vốn qua chào bán chứng khoán đem lại nhiều
lợi ích, thể hiện rõ nét vai trò của hoạt động này.
2.3.1. Đối với thị trường chứng khoán
Chào bán chứng khoán quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị
trường chứng khoán. Hoạt động này cung cấp hàng hoá- chứng khoán vào thị
trường sơ cấp từ đó làm tiền đề cho các hoạt động khác diễn ra trên thị trường
thứ cấp. Như vậy nếu không có thị trường chứng khoán sơ cấp thì cũng sẽ không
có thị trường thứ cấp. Thêm nữa, nếu thị trường sơ cấp không đủ mạnh thì thị
trường thứ cấp cũng sẽ không thể phát triển. Khi đó thị trường chứng khoán sẽ
không thể phát huy vai trò là một kênh chủ yếu huy động và phân bổ nguồn vốn
cho nền kinh tế. Hoạt động chào bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp chính là
việc các chủ thể kinh tế trực tiếp gọi vốn của công chúng để đầu tư và phát triển,
đưa thị trường sơ cấp trở thành công cụ để tự do hoá nền kinh tế. Đồng thời với
việc thu hút vốn từ hoạt động chào bán chứng khoán, thị trường chứng khoán sẽ
góp phần giảm bớt sức ép về cấp tín dụng cho hệ thống ngân hàng.
2.3.2. Đối với chủ thể chào bán
Với Chính phủ, việc chào bán chứng khoán sẽ góp phần thu hút mạnh mẽ
nguồn vốn khổng lồ của toàn nền kinh tế và nguồn vốn từ đầu tư nước ngoài. Từ
đó tạo động lực để giải quyết các vấn đề thiếu hụt ngân sách, thực hiện các dự
án công trình đầu tư về cơ sở hạ tầng góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước. Theo quy định của một số quốc gia trong đó có Việt
Nam, Ngân hàng Nhà nước sẽ tạm ứng cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu
hụt tạm thời của quỹ ngân sách. Việc Chính Phủ phát hành chứng khoán sẽ phần
nào giảm bớt áp lực cho Ngân hàng Nhà nước. Đồng thời trong bối cảnh mà
việc huy động vốn thông qua các kênh như đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI),
viện trợ chính thức (ODA) không ổn định, chịu nhiều ảnh hưởng của các cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ diễn ra trong khu vực và trên thế giới thì hoạt
động trên của Chính phủ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Chính phủ có thể
chào bán trái phiếu Kho bạc phục vụ ngân sách Nhà nước hoặc trái phiếu Công
trình trung ương huy động vốn cho các dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của ngân
sách trung ương, trái phiếu đầu tư để huy động vốn đầu tư và trái phiếu ngoại tệ.
Ngày nay, hoạt động chào bán trái phiếu của Chính Phủ diễn ra ngày càng
thường xuyên, trở thành một bộ phận trong kế hoạch tổng thể của chiến lược
huy động vốn quốc gia.
Với doanh nghiệp hoạt động chào bán chứng khoán cũng đóng vai trò
quyết định đến sự thành lập và phát triển của doanh nghiệp. Thứ nhất, chào bán
chứng khoán để hình thành doanh nghiệp mới: chào bán chứng khoán để thành
lập công ty cổ phần và cổ phần hoá công ty Nhà nước. Một công ty cổ phần mới
sẽ được hình thành trên cơ sở chào bán lần đầu cổ phiếu của công ty đồng thời
chào bán cổ phiếu cũng là điều kiện tiên quyết để chuyển một công ty Nhà Nước
thành công ty cổ phần. Thứ hai, chào bán chứng khoán còn là phương thức để
mở rộng quy mô vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên thực tế doanh nghiệp có nhiều hình thức để tăng vốn kinh doanh như:
chuyển lợi nhuận, tích luỹ vào vốn sản xuất, vay vốn các tổ chức tín dụng hoặc
người lao động trong doanh nghiệp. Trước đây doanh nghiệp thường vay ngân
hàng trong một thời gian ngắn và thường bắt buộc phải thế chấp, đồng thời họ
luôn ở trong trạng thái lo lắng về nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Sự ra đời của
chứng khoán cho phép doanh nghiệp có thêm khả năng cũng như cơ hội tiếp cận
với một kênh huy động vốn mới linh hoạt và hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp có
thể chào bán cổ phiếu hoặc trái phiếu. Đây là nguồn vốn được đảm bảo và có
khả năng sử dụng lâu dài. Thêm nữa, với việc chào bán chứng khoán, doanh
nghiệp có thể quảng bá hình ảnh, tên tuổi và uy tín của mình trước công chúng,
củng cố các mối quan hệ với khách hàng và nhà cung cấp từ đó tăng khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp tại thị trường trong nước và thị trường nước ngoài.
3. Pháp luật về chào bán chứng khoán
3.1. Khái niệm pháp luật về chào bán chứng khoán
Như chúng ta đã biết, chào bán chứng khoán được coi là khâu đầu tiên,
tạo tiền đề cho sự hình thành cũng như quá trình vận động và phát triển của thị
trường chứng khoán. Hoạt động chào bán chứng khoán có thể huy động được
nguồn vốn rất lớn nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế. Tuy nhiên nếu
không có sự quản lý một cách chặt chẽ, hoạt động này có thể dẫn đến sự khủng
hoảng của kinh tế, gây thiệt hại cho nhà đầu tư, từ đó ảnh hưởng xấu đến nền
kinh tế của đất nước. Ví dụ, trong nhà trình chào bán nhà đầu tư muốn mua
chứng khoán phải đăng ký và đặt cọc tiền mua chứng khoán. Không ít doanh
nghiệp chiếm dụng nguồn vốn này nhằm mục đích riêng, coi khả năng thu lợi từ
các đợt phát hành chứng khoán là công cụ lừa đảo. Chính vì lẽ đó, pháp luật
phải can thiệp để đảm bảo chất lượng đầu vào của hàng hoá được cung ứng trên
thị trường, sự an toàn cho nguồn vốn cũng như tạo ra môi trường giao lưu về
vốn an toàn và có hiệu quả. Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật, tạo ra
khung pháp lý buộc các chủ thể chào bán phải tuân theo, ổn định sự vận hành
đồng bộ của thị trường chứng khoán. Đồng thời pháp luật về chào bán chứng
khoán phải được xây dựng phù hợp với điều kiện kinh tế và hoàn cảnh của đất
nước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét