Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nâng cao sức cạnh tranh (về chất lượng và giá cả) của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Lợi thế so sánh, đó là những yếu tố, những thuận lợi mà một quốc gia có được .
Quốc gia nào có ưu thế về một hoặc một số hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó, thì có
thể phát huy, tập trung vào sản xuất để có thể xuất khẩu mặt hàng đó ra nước ngoài
và quốc gia đó cũng có thể nhập khẩu những hàng hóa mà không có lợi thế so
sánh.
Lợi thế so sánh được hình thành trên cơ sở các điều kiện xã hội của một nước như:
cơ cấu kinh tế, chi phí lao động, trình đọ khoa học công nghệ, mức độ chuyên môn
hóa sản xuất Việt Nam có các lợi thế so sánh trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế đó là :
Vị trí địa_chíng trị của Việt Nam trong vùng Đông Nam á
Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi với ba mặt tiếp giáp với biển.Chúng ta cũng có
vị trí địa chính trị trong Đông Dương và trong ASEAN, và một phần nào đó trong
APEC& ASEM. Nói chung vị trí địa chính trị rất quan trọng,nếu biết khai thác thì
chúng ta có thể có vị thế cao trong vùng.
Về tài nguyên thiên nhiên:
Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú(đất,nước, rừng, biển,
khoáng sản, du lịch ).Vì vậy, Việt Nam có những điều kiện thuận lợi và tiềm năng
đẻ phát huy lợi thế của mình. Nhưng điều quan trọng là chúng ta phải sử dụng
nguồn tài nguyên đó như thế nào cho hợp lý. Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố mà
các quốc gia phát huy thế mạnh, lợi thế của mình trong khi mở cửa giao lưu với
các nước khác trên thế giới, chính vì vậy việc khai thác sử dụnh bừa bãi tài nguyên
thiên nhiên dẫn đến sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Do đó trong thời đại ngày
nay, cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa họa công nghệ, cho phép con
người sử dụng chất xám, phát minh nghiên cứu từng bước tìm ra những vật liệu
nhân tạo thay thế cho nguồn tài nguyên hiện có. Việt Nam chúng ta có nhiều nguồn
tài nguyên chưa được khai thác hợp lý và đúng mức đẻ phục vụ cho phát triển kinh
5 5
tế xã hội.Vì vậy, chúng ta cần phải biết khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên để tăng sức cạnh tranh trong việc sản xuất một số mặt hàng có
ưu thế.
Về nguồn nhân lực:
Nhân lực cũng là một yếu tố quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế . Bởi lẽ,
một lực lượng lao động đông đảo với trình độ cao sẽ sản xuất ra những mặt hàng
có chất lượng,ưu thế có thể xuất khẩu ra các nước trong khu vực. Việt Nam là một
nước dân số đông, số người ở độ tuổi lao động nhiều, hứa hẹn nhiều tiềm năng
trong việc nâng cao sức cạnh tranh của nên kinh tế nước ta. Dân số trẻ và nguồn
nhân lực dồi dào đã và đang có xu hướng tri thức hóa. Tuy nhiên chúng ta có thể sẽ
gặp vấn đè khó khăn về việc làm, giáo dục, y tế & các dịch vụ xã hội khác. Thêm
vào đó là tình trạng sức khỏe lao động nước ta nhìn chung không được tốt như lao
động các nước trong khu vực và trên thế giới, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền
sản xuất hiện đại dẫn đến sản phẩm làm ra chất lượng không cao, hay là tốn nhiều
thời gian để sản xuất ra một sản phẩm.
Một quốc gia với dân số đông, lực lượng lao động nhiều, nhưng chưa chắc đã là
một quốc gia mạnh mà điều quan trọng là trìng độ của người lao động phải được
thỏa mãn, đáp ứng được đòi hỏi của nền sản xuất hiện đại, với xu thế mở cửa hội
nhập.
2.2 Năng suất của nền kinh tế quốc gia:
Năng suất của nền kinh tế quốc gia xác định sự tăng trưởng của quốc gia đó. Và
vì vậy năng suất của nền kinh tế được đo bằng giá trị hàng hóa và dịch vụ được
sảm xuất trên một đơn vị lao động, vốn nguồn lực vật chất của nước đó. Để tăng
năng suất lao động, chúng ta phải không ngừng giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành
bằng cách áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ & sử dụng tốt hơn những
6 6
nhân tố sự tiến triển của năng suất và sức cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc
vào ba yếu tố tác động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bao gồm: bối cảnh chính
trị _ kinh tế vĩ mô,chất lượng hoạt động và chiến lược của các doanh nghiệp, chất
lượng của môi trường kinh doanh.
Bối cảnh chính trị và kinh tế vĩ mô : Sự ổn định chính trị là một điều kiện tiên
quyết đối với cạnh tranh và sự ổn định kinh tế vĩ mô cũng vậy nó sẽ thúc đảy
không chỉ cạnh tranh mà còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế ,sự phồn
thịnh của một quốc gia. Vì thế các quốc gia cần phải xem xét làm thế nào , có
những chính sách đẻ khuyến khích và làm tăng năng suất trong các doanh nghiệp
thì quốc gia đó mới có thế mạnh trong cạnh tranh.
Hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp : doanh nghiệp phải làm sao để sản
phẩm sản xuất ra có mức giá ngang bằng hoặc thấp hơn so với mức giá thị trường
nhưng chất lượng tốt và không cần tới sự trợ cấp của nhà nước.Điều đó phụ thuộc
vào yếu tố bên trong doanh nghiệp và môi trường kinh doanh.
Môi trường cạnh tranh :Năng suất của quốc gia phụ thuộc vào môi trường kinh
doanh. Môi trường kinh doanh bao gồm một số những yếu tố quan trọng : Thương
mại và đầu tư; tài chính(chất lượng và sự hoàn hảo của hệ thống tài chính, ngân
hàng trong thị trường vốn ), cải tổ hệ thống doanh nghiệp và thiết lập hệ thống
tổng công ty quản lý có hiệu quả,nguồn nhân lực liên quan đến các vấn đề:nâng
cao giáo dục, kỹ năng, phat triển thị trường sức lao động có hiệu quả; công nghệ.
Nói chung để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế một quốc gia thì quốc gia
đó cần phải xem xét những yéu tố quyết định sức cạnh tranh để từ đó có những
chiến lược phát triển phù hợp.
3.Tính tất yếu nâng cao khả năng cạnh tranh:
7 7
Tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra rộng khắp và nhanh
chóng.nó đã trở thành xu thế hiện nay,xu thế của thời đại và vì vậy, chúng ta không
một quốc gia nào có thể tách khỏi xu thế chung đó. Để có thể phát triển được, thì
quốc gia đó nhất thiết phải mở cửa và hội nhập với nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên,
muốn mở cửa và hội nhập thì nền kinh tế của quốc gia đó phải có sức cạnh tranh
với hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia khác .Vì vậy khả năng cạnh tranh của
nền kinh tế quốc gia là điều cần thiết.
Hơn nữa cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy
chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế, công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp. Sự phát triển của khoa học công nghệ tạo ra những thay đổi căn bản về
phương thức tiến hành thương mại trên phạm vi thế giới. Giờ đây người ta có thể
ngồi một chỗ đặt hàng qua mạng internet, biết được thông tin cập nhật hàng ngày
Sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lam cho phân công lao đọng
quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu.Nếu trước kia là phân công theo ngành, theo
sản phẩm thì giờ đây phân công lao động theo chi tiết và theo quy trình công nghệ .
Và tiềm lực về yếu tố khoa học công nghệ đanh trở thành yếu tố quan trọng trong
cạnh tranh. Các nước phát triển sẽ dần đi vào những sản phẩm có hàm lượng chất
xám cao và các dịch vụ có nền móng là công nghệ thông tin, còn các nước đang
phát triển sẽ tiếp nhận vai trò cung ứng các sản phẩm có hàm lượng chất xám trung
bình. Khoa học công nghệ tạo điều kiện cho các quốc gia, nhất là các nước đang
phát triển có thể nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo.
Nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ, đang tạo ra một thị trường hàng hóa và
dịch vụ thế giới, một thị trường tài chính tiền tệ chung.Lĩnh vực luôn đi trước, đó
là thương mại.Quốc tế hóa thưong mại đòi hỏi mỗi quốc gia phải xóa bỏ rào cản,
chấp nhận tự do buôn bán.Mỗi nước phải mở cửa thị trường trong nứớc, thâm nhập
vào thị trưòng quốc tế. Khi tham gia vào quá trình hội nhập , chúng ta có cơ hội
thâm nhập vào thị trường thế giới đồng thời cũng có nghĩa là hàng hóa của chúng
8 8
ta phải cạnh tranh với hàng hóa của các nước khác.Chính vì vậy hàng hóa Việt
Nam phải có sự thay đỏi về chất để đảm bảo có thể đứng vững trên thị trường trong
và ngoài nước.
Như chúng ta đã biết, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta hiện
nay còn yếu. chính vì vậy khi tham gia vào quá trình hội nhập, nếu không được
chẩn bị trước , rất có thể chúng ta sẽ bị thua thiệt.Vì vậy chúng ta phải chủ đọng
hội nhập vào xu thế chung, tăng cưòng sức cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Do
đó vấn đè có tính chất quyết định là nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước
ta.
Kim ngạch xuất nhập khẩu, nhập siêu và tỷ lệ nhập siêu qua các năm
năm XK
(triệuUSD
)
Tốc độ
tăng (%)
NK
(triệuUSD)
Tốc độ
tăng (%)
Nhập siêu
(Triệu SD)
Tỷ lệ
nhập
siêu (%)
1993 2.985,2 15,7 3.924,0 54,4 938,8 31,4
1994 4.054,3 35,8 5.825,8 48,5 1.771,5 43,7
1995 5.448,9 34,4 8.155,4 40,0 2.706,5 49,7
1996 7.255,9 33,2 11.143,6 36,6 3.887,7 53,6
1997 9.185,0 26,6 11.592,3 4,0 2.407,3 26,2
1998 9.360,3 1,9 11.499,6 -0,8 2.139,3 22,9
1999 11.541,4 23,3 11.742,1 2,1 200,7 1,7
2000 14.482,7 25,5 15.636,5 33,2 1.153,8 8,0
2001 15.027,0 3,8 16.162,0 3,4 1.135,0 7,9
2002 16.705,8 11,2 19.733,0 21,8 3.027,2 18,2
2003 20.149,3 20,6 25.255,8 27,9 5.106,5 25,3
2004 26.504,2 31,5 31.953,9 26,5 5.449,7 20,6
ước 2005 32.233,0 21,6 36.811,0 15,4 4.648,0 14,4
4.Kinh nghiệm về nâng cao khả năng cạnh tranh của Trung Quốc :
9 9
Trung Quốc là một nước xã hội chủ nghĩa, vốn trước kia cũng có nền kinh tế
theo chế độ kế hoạch hóa tập trung. Kể từ sau hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI(1978), Trung Quốc bước vào giai đoạn thực hiện
chuyển đổi nền kinh tế từng bước sang cơ chế thị trường với tiêu chí xây dựng một
nước xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc. Bằng việc áp dụng nhiều chính
sách mới phù hợp, Trung Quốc đã đưa nền kinh tế phát triển vượt bậc.
Trong lĩnh vực công nghiệp :
Để phát triển công nghiệp, Trung Quốc đã tiến hành cải cách thể chế và chính
sách trong công nghiệp tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của các loại hình
doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế. Trung Quốc xác định doanh nghiệp
Nhà nước là trụ cột của hệ thống công nghiệp nói riêng và của nền kinh tế quốc
dân nói chung. Trước năm 1994, Nhà nước căn cứ vào tính chất sở hữu để áp dụng
những chính sách khác nhau, thực tế cũng nảy sinh ra những mâu thuẫn về quyền
lợi và nghĩa vụ giữa các loại hình doanh nghiệp. Sau năm 1994, cải cách thể chế
doanh nghiệp Nhà nước được tiến hành trong điều kiện các thành phần kinh tế
được cạnh tranh bình đẳng trong hoạt động kinh doanh. Nhà nước tập trung vào
quản lý các doanh nghiệp Nhà nước then chốt, liên quan đến quốc kế dân sinh, các
doanh nghiệp nhỏ cho phếp bán, cho thuê, hay sáp nhập, giải thể. Đồng thời xúc
tiến cổ phần một số doanh nghiệp Nhà nước.Phương thức quản lý doanh nghiệp
nhà nước đã chuyển từ quản lý trực tiếp thông qua kế họach mang tính pháp lệnh
sang phương pháp quản lý gián tiếp là chính.
Kinh tế tư nhân với nhiều loại hình cũng được khuyến khích phát triển. Nhà
nước đã quan tâm đến việc hòan thiện hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế vĩ
mô để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư của tư nhân. Trong phát triển kinh tế,
nhà nước đã thực hiện điều chỉnh phương hướng đầu tư giữa công nghiệp và nông
nghiệp, giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ.
10 10
Trong công nghiệp Trung Quốc đã chú trọng đầu tư vào thiết bị công nghệ.
Trong thiết bị kỹ thuật tổng thể của Trung Quốc đã rút ngắn khỏang cách từ 10 đến
15 năm so với các nước công nghiệp phát triển thế giới. Hiện nay, trang thiết bị của
ngành công nghiệp Trung Quốc đã có tới 20% đạt trình độ kỹ thuật tiên tiến của
thế giới đầu những năm 1990, 50% đạt kỹ thuật tiên tiến của thế giới đầu những
năm 1980 và 30% đạt trình độ kỹ thuật của thế giới những năm 70 trở về trước.
Sự phát triển các xí nghiệp hương trấn :
+ Xí nghiệp là tên gọi chung của các xí nghiệp công thương nghiệp, xây dựng
họat động ở khu vực nông thôn Trung Quốc. Về cơ bản xí nghiệp hương trấn là xí
nghiệp ngoài quốc doanh. Các xí nghiệp hương trấn góp phần thúc đẩy quá trình
công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và việc làm ở
nông thôn. Xí nghiệp hương trấn đã sản xuất ra 2/3 hàng may mặc của cả nước, 1/5
sản phẩm dệt, 3/4 giày dép, 1/3 sản phẩm giấy, 1/3 sản lượng xi măng, 90% gạch
ngói, 50% phân lân, 15% thuốc trừ sâu và trên 50% công cụ máy móc nông nghiệp
nhỏ. Do đó đã góp phần đẩy mạnh hàng xuất khẩu của Trung Quốc trên thị trường
khu vực và thế giới. Một số xí nghiệp hương trấn của Trung Quốc đã liên doanh
với các xí nghiệp nước ngoài đã đưa ra nguyên liệu, mẫu mã hàng đến gia công,
đưa linh kiện đến lắp ráp, đưa thiết bị đến bổ sung và bao tiêu sản phẩm.
Về ngoại thương :
+ Trước khi cải cách và mở cửa, về cơ bản ngoại thương Trung Quốc do các
công ty chuyên ngành về ngoại thương cấp Trung ương quản lý. Trong quá trình
chuyển qua kinh tế thị trường, thể chế kinh doanh ngoại thương kiểu tập chung cao
độ đã dần dần bị xóa bỏ. Thể chế ngoại thương được cải cách chính thức từ tháng 9
– 1984 ,về mặt kế hoạch đã thu hẹp những chỉ tiêu có tính chất mệnh lệnh, chỉ giữ
lại những chỉ tiêu đối với những mặt hàng xuất nhập khẩu trọng điểm. Thể chế
quản lý ngoại hối và thuế xuất nhập khẩu cũng được cải cách theo hướng có lợi
cho các đơn vị kinh doanh ngọai thương. Về cơ chế mới, các đơn vị ngoại thương
11 11
được tự do hơn trong kinh doanh và đóng vai trò chủ thể của thị trường. Cơ chế
quản lý mới chú trọng phát huy tính năng động tự chủ tự chịu trách nhiệm về hiệu
quả sản xuất – kinh doanh của các tổ chức kinh tế.
Về cơ chế định giá xuất nhập khẩu được áp dụng linh họat, thích ứng với sự
thay đổi của quan hệ cung cầu và hệ thống giá cả trên thị trường quốc tế. Cải cách
thể chế ngọai thương của Trung Quốc cho phép mở ra nhiều kênh xuất khẩu, kết
hợp công nghiệp với mậu dịch, nhằm xóa bỏ sự ngăn cách giữa sản xuất trong
nước với giao lưu quốc tế, hướng tới tiếp cận với các thị trường hiện đại.
Trung Quốc thực hiện chiến lược đa dạng hóa thị trường, lấy một ngành làm
chính, kinh doanh nhiều loại, lấy buôn bán hàng đổi hàng là chính và buôn bán
ngoại tệ mang tính chất bổ sung. Đồng thời Trung Quốc tăng cường khâu dịch vụ
sau khi bán hàng, lấy xuất khẩu hàng hóa nhằm thúc đẩy xuất khẩu kỹ thuật, thiết
bị vv
Về đầu tư của Trung Quốc ra nước ngòai :
Việc đầu tư ra nước ngòai của các doanh nghiệp được chính phủ Trung Quốc
đặc biệt khuyến khích và hỗ trợ nhằm tạo các kênh xuất khẩu vật tư và thiết bị.
Họat động này giúp các doanh nghiệp xâm nhập vào môi trường kinh doanh quốc
tế và là điều kiện cần thiết cho phát triển và hội nhập. Các công ty này không chỉ
đầu tư vào các nước đang phát triển mà còn xâm nhập vào cả Mỹ và Châu Âu.
Nhìn chung các doanh nghiệp tham gia họat động đầu tư ở nước ngòai được tổ
chức và họat động tương đối đồng bộ, có đội ngũ nhân lực với chuyên môn nghiệp
vụ khá mạnh nên có khả năng mở rộng đầu tư sang nhiều lĩnh vực và khả năng
cạnh tranh quốc tế tương đối mạnh.


II.Thực trạng cạnh tranh của nền kinh tế nước ta :
12 12
Từ năm 1986, khi chúng ta bắt đầu tiến hành đổi mới, quá trình đó diễn ra chậm
chạp và gặp nhiều khó khăn, nhưng hiện nay chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu
trên nhiều mặt.
1.Những thành tựu đã đạt được của nền kinh tế nước ta
• a.Thực trạng nền kinh tế Việt Nam
Do sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung
còn ở trình độ hạn chế. Nếu trước kia cạnh tranh chủ yếu tập trung trong lĩnh vực
lưu thông hàng hóa thì hiện nay cạnh tranh trong sản xuất, cạnh tranh về chất
lượng hàng hóa.Tuy nhiên cạnh tranh ở nước ta vẫn còn yếu kém, còn dấu vết của
cơ chế cũ, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nhiều hành vi cạnh tranh không lành
mạnh. tiêu biểu như:
Nạn hàng giả tràn lan trên thị trường
Tình hình hàng giả tràn lan trên thị trường với địa bàn hoạt đọng ngày càng mở
rộng. Hàng giả hiện nay với thủ đoạn làm giả ngày càng tinh vi, phức tạp gây ảnh
hưởng không nhỏ tới lợi ích người tiêu dùng, thậm chí gây ảnh hưởng nghiêm
trọng tới tính mạng của họ.
Hàng nhái mẫu mã nhãn hiệu
Đó là những cơ sơ sản xuất kinh doanh những sản phẩm với chất lượng không
tốt nhưng lại mang nhãn hiệu gân giống với nhãn hiệu của một hãng sản xuất sản
phẩm đó nổi tiếng. Việc vi phạm bản quyền này diễn ra khá phổ biến, đã có rất
nhiều trường hợp xảy ra, nhưng do pháp luật quy định chưa chặt chẽ và còn nhiều
kẽ hở nên chung ta nhìn chung vẫn chưa có biện pháp ngăn chặn xử lý tình trạng
này. Điều đó ảnh hhưỏng nghiêm trọng tới uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp
không những ở trong nước, mà còn đối với những hàng hóa chúng ta xuất khẩu ra
nước ngoài. Hiện nay, các đơn vị kinh doanh dã có ý thức và trách nhiệm hơn đối
với sản phẩm của mình thông qua các đơn vị đăng kí bảo hộ quyền sở hữu công
13 13
nghiệp. Điều đó cho chúng ta thấy rằng tình trạng hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu,
mẫu mã ngày càng trở nên nghiêm trọng. Nó không những ảnh hưởng nghiêm
trọng tới lợi ích, tính mạng của người tiêu dùng, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng
đối với những lớp sản phẩm, mẫu mã, nhãn hiệu đó và còn ảnh hưởng tới uy tín
của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và ngoài nứơc.
Vấn đề quảng cáo sai sự thật
Đây cũng là một vấn đề đáng quan tâm, cùng với quá trình cạnh tranh, hoạt động
quảng cáo diễn ra sôi động. Người tiêu dùng thông qua các quảng cáo, họ có được
thông tin về sản phẩm chủng loại với chất lượng, giá cả phù hợp với ttúi tiền. Thế
nhưng hoạt động quảng cáo không nên đi quá xa so với sự thật mà nên đi sát với
thực tế để tạo niềm tin cho người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm. Đôi khi vẫn
còn tồn tại một số hình thức quảng cáo ở ngoài đường, vỉa hè như những sản phẩm
thuốc bổ, thuốc uống trẻ mãi không già, dầu gội đầu v.v nhưng thực ra chỉ là lừa
bịp. Hoặc có những sản phẩm thuốc tẩy rửa, hóa chất không đảm bảo an toàn cho
người sử dụng được bày bán công khai. Hay là vừa quảng cáo cho sản phẩm của
mình, lại đồng thời so sánh với sản phẩm của hãng khác. Nhưng hiện nay thì tình
trạng này cũng đã dần dần lắng xuống và có thể nói là hầu như không còn. Đó chỉ
là doanh nghiệp làm ăn không chân chính hoặc là những tổ chức, cơ sở sản xuất
kinh doanh nhỏ lẻ.
Tình trạng bán phá giá, cản trở quyền lựa chọn của người tiêu dùng.
Sản phẩm, hàng hóa của Trung Quốc đang tràn vào Việt Nam với giá rẻ hơn rất
nhiều so với sản phẩm nội địa. Điều đó làm cho hàng hóa của chúng ta không thể
cạnh tranh nổi so với hàng hóa Trung Quốc. Cùng với việc bán phá giá, đôi khi còn
xảy ra tình trạng cản trở quyền lựa chọn của người tiêu dùng, nhăm thực hiện độc
quyền bán. Chẳng hạn như những đại lý bán tạp phẩm, đồ uống chỉ bán một loại
nước ngọt duy nhất, có thể do hãng đó đã trả thêm tiền cho cửa hàng đó đẻ họ chỉ
bán duy nhất sản phẩm của mình
14 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét