Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Nghiên cứu khả năng phát chuyển đổi từ nuôi thuỷ sản truyền thống sang nuôi thuỷ sản hữu cơ tại xã Tân Dân, An Lão, Hải Phòng

Nghiên cứu khả năng phát triển NTTS hữu cơ
Các từ viết tắt
ADDA Agricultural Development Denmark Asia (Tổ chức phát triển
Nông nghiệp Đan Mạch – Châu Á)
BAP Best Aquaculture Practice (Thực hành NTTS tối ưu)
HND Hội Nông dân
GAP Good Aquaculture Practise (Thực hành NTTS tốt)
HACCP Hazard Analysis Critical Control Points
IFOAM International Federation of Organic Agriculture Movements
(Liên đoàn các Phong trào Nông nghiệp Hữu cơ Thế giới)
IIED International Institute for Environment and Development
(Viện Môi trường và Phát triển Quốc tế)
PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia cộng đồng
VNCNTTS Viện Nghiên cứu NTTS I
USD Đô la Mỹ
VKHNN Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
VND Đồng Việt Nam
TWHND Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
5
Nghiên cứu khả năng phát triển NTTS hữu cơ
Giới thiệu
ADDA và Trung ương Hội nông dân Việt Nam (VNFU) đang tiến hành dự
án nghiên cứu và hình thành hệ thống sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp hữu cơ ở Việt Nam. Cả hai tổ chức này đều nhìn nhận sản phẩm
nông nghiệp hữu cơ là một trong những công cụ nâng cao vai trò xã hội của
các cộng đồng nông thôn. Trên cơ sở đó, một dự án hợp tác đã được hình
thành nhằm phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp hữu cơ. Dự án sẽ được
triển khai ở Đồng bằng Sông Hồng, bao gồm Hà Nội và một số tỉnh lân cận,
với mục tiêu sản xuất nông phẩm cho các thị trường chính của miền Bắc –
Hà Nội và Hải Phòng. Các địa điểm dự án được lựa chọn theo tiêu chí có thể
làm đại diện cho những hệ thống canh tác chủ yếu ở vùng này.
Ở Việt Nam, nếu quy chiếu theo tiêu chuẩn quốc tế về sản xuất, nền sản xuất
nông nghiệp hữu cơ mới chỉ được bắt đầu. Trong 2-3 năm trở lại đây, một số
dự án nhỏ về sản xuất hữu cơ đã cho thấy việc phát triển lĩnh vực này có
tiềm năng phát triển tốt. Tuy nhiên, với những đặc thù cơ bản hiện nay của
nông nghiệp Việt Nam về quy mô nông trại, nguồn lao động, tiền vốn và
phương thức luân canh rau màu, chúng ta vẫn chưa xác định được chính xác
loại hình canh tác nông nghiệp hữu cơ nào là phù hợp.
Hầu hết những kinh nghiệm thu được về nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam
cho đến nay vẫn tập trung vào trồng trọt, với các sản phẩm chủ yếu là rau
xanh, trà và các loại gia vị (gừng, hồi, quế…). Tuy nhiên, do nông nghiệp
hữu cơ chủ yếu dựa vào phương thức canh tác kết hợp, nên cần chú ý đến cả
nghề chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Ở miền Nam, một số chương trình
NTTS hữu cơ quy mô nhỏ đang được xây dựng, nhưng những thông tin
chung về tính khả thi của NTTS hữu cơ, đặc biệt trong điều kiện miền Bắc
(nơi dự án được triển khai) vẫn còn thiếu. Bởi vậy, cần phải nghiên cứu chi
tiết khu vực này, để cho phép dự án xây dựng phương pháp luận cụ thể cho
phát triển NTTS hữu cơ.
Trong báo cáo này, những kết quả nêu ra được rút từ việc phân tích sơ bộ
đối với hệ thống NTTS và các kênh tiêu thụ ở xã Tân Dân, Hải Phòng. Dự
án ADDA-VNFU đã xác định những mục tiêu sau:
• Các nông trại sản xuất hữu cơ và người tiêu dùng được tổ chức thành
các hợp tác xã, hiệp hội hoặc tổ nhóm, và thực hiện việc quản lý sản
xuất các mặt hàng nông phẩm hữu cơ được cấp phép cũng như việc
cung cấp các sản phẩm này ra thị trường địa phương.
6
Nghiên cứu khả năng phát triển NTTS hữu cơ
Mục tiêu cụ thể của quá trình nghiên cứu NTTS hữu cơ là:
• Mô tả các phương thức sản xuất hiện tại đối với các đối tượng nuôi
trồng nước ngọt ở một số khu vực trọng điểm của huyện An Lão, Hải
Phòng;
• Mô tả các cơ chế tiêu thụ hiện tại đối với các sản phẩm nuôi trồng nói
trên;
• Phân tích các phương thức sản xuất hiện tại nhằm xác định những tiềm
năng và trở ngại đối với việc chuyển đổi sang hình thức sản xuất hữu
cơ (bằng cách phân tích SWOT);
• Đề xuất những kiến nghị về kỹ thuật đối với quá trình NTTS hữu cơ,
trong đó có thức ăn, tỷ lệ thả, phương pháp thu hoạch… Những
khuyến nghị này cũng cần phải bao hàm cả những biện pháp cụ thể sẽ
được thực hiện trong 2 năm đầu của quá trình chuyển đổi.
Nhóm nghiên cứu gồm tổng cộng 6 người (xem Bảng 1)
Bảng 1 Thành viên nhóm nghiên cứu
Họ tên Chức vụ
Bà Nguyễn Thị Loan Phó Giám đốc kiêm Điều phối viên Dự
án
Bà Irmen Mantingh (trưởng
nhóm nghiên cứu)
Chuyên gia tư vấn thủy sản
Ông Nguyễn Huy Điền Phó Giám đốc – TT Khuyến ngư Quốc
gia – Bộ Thủy sản
Ông Nguyễn Xuân Cương Cán bộ Kinh tế - Xã hội (VNCNTTS)
Bà Hoàng Thị Mai Hương Phiên dịch (Trụ sở TWHND tại Hà Nội)
Ông Phùng Hưng Mạnh Trợ lý phỏng vấn (VP TWHND tại Hải
Phòng)
Trong chương 2, chúng tôi sẽ trình bày các phương pháp nghiên cứu và
phỏng vấn đã áp dụng. Chương 3 là kết quả nghiên cứu. Chương 4 tập trung
vào các cơ chế tiêu thụ sản phẩm cá nước ngọt. Chương 5 phân tích yêu cầu
chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp hữu cơ và trong chương 6 là các kiến
nghị thực thi canh tác hữu cơ cũng như hoạt động nghiên cứu cần triển khai
tiếp.
7
Nghiên cứu khả năng phát triển NTTS hữu cơ
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Chuẩn bị nghiên cứu trên thực địa
Điểm nghiên cứu tại xã Tân Dân (Hải Phòng) đã được chọn trong khung lô-
gic của dự án 5 năm giữa ADDA-TWHND. Khu vực dự án được lựa chọn
với mục đích làm đại diện cho các hệ thống canh tác khác nhau của miền
Bắc. Xã Tân Dân là một địa điểm với đặc trưng của hệ thống nông nghiệp
tập trung vào NTTS, kết hợp với chăn nuôi và trồng trọt (ở quy mô hạn chế)
như trồng lúa, ngô. Xã này vốn có truyền thống nuôi cá từ vài chục năm nay.
20 nông hộ trong xã được chọn theo tiêu chí: các hộ này phải có diện tích
đất đủ lớn cho nuôi cá hữu cơ, có đủ điều kiện để áp dụng các phương thức
canh tác hữu cơ (tức là không bị thiếu nguồn nước nghiêm trọng, có đủ lao
động), sẵn sàng tham gia tổ nhóm và các hoạt động dự án một cách tự
nguyện, và phải là những nông dân sinh sống thuần túy dựa vào nghề nông,
với diện tích canh tác (không kể đất rừng) từ 5 đến 20 sào mỗi hộ. TWHND
mời các cán bộ tỉnh, xã và các thương nhân tham gia phỏng vấn (xem danh
sách trong Phụ lục 1). Kế hoạch nghiên cứu tổng thể được trình bày trong
phụ lục 2.
Hoạt động nghiên cứu thực địa chủ yếu áp dụng các nguyên lý của phương
pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia cộng đồng (PRA) nhằm tìm hiểu
nhận thức của các chủ thể liên quan đối với phương thức NTTS, trao đổi
hàng hóa và tiềm năng nuôi hữu cơ ở xã Tân Dân.
Trước hết, 2 phỏng vấn viên hướng dẫn 4 thành viên khác của nhóm về các
nguyên tắc của PRA trong vòng nửa ngày, để họ làm quen với phương pháp
này và có thể giúp đỡ tốt hơn các phỏng vấn viên trong quá trình phỏng vấn.
Việc tập huấn chủ yếu tập trung vào các công cụ PRA sẽ sử dụng khi phỏng
vấn (xem tài liệu tập huấn trong phụ lục 3). Những ví dụ về công cụ PRA
được trích dẫn từ công trình của Pretty và CTV (1995).
Khi chuẩn bị nghiên cứu, các bảng đề mục câu hỏi riêng rẽ đã được xây
dựng cho từng nhóm đối tượng nông dân, cán bộ, tư thương trong xã (phụ
lục 4a+). Hầu hết thời gian phỏng vấn được dành cho nông dân, vì họ là chủ
thể chính trong sản xuất NTTS.
2.2 Phỏng vấn nhà hàng, khách sạn, siêu thị
Một cuộc khảo sát nhỏ được thực hiện với 3 đầu bếp của các nhà hàng –
khách sạn hàng đầu của Hà Nội và với một siêu thị của Hải phòng về cá và
8
Nghiên cứu khả năng phát triển NTTS hữu cơ
các sản phẩm từ cá trong năm 2005. Trong cuộc khảo sát này, chúng tôi cố
gắng tìm câu trả lời cho các vấn đề về lượng cá tiêu thụ, giá cá và cơ cấu tiêu
dùng với từng loài cá, tìm hiểu về nhận thức và thái độ của các đầu bếp và
người quản lý siêu thị đối với cá nuôi hữu cơ. 2 bộ câu hỏi đã được chuẩn bị
(phụ lục 5a+b). Vì lý do tế nhị, tên các khách sạn và nhà hàng sẽ không
được nêu trong báo cáo này. Một nhà máy chế biến thủy sản cũng được
phỏng vấn để xác định nhu cầu cá nước ngọt đã qua chế biến trên thị trường
trong nước và xuất khẩu.
9
Nghiên cứu khả năng phát triển NTTS hữu cơ
3 Các phương thức sản xuất hiện tại
3.1 Thông tin về xã Tân Dân
Xã Tân Dân nằm ở trung tâm huyện An Lão, cách TP Hải Phòng 20 km. Xã
Tân Dân có 7 làng: Việt Khê, Vị Xuyên, Đại Hoàng, Xóm Chùa, Xóm Gua,
Lai Hà and Xóm Duong. Các làng này đều ở sát sông, và khu vực đất trũng
của xã vốn có truyền thống nuôi cá từ lâu. Diện tích xã là 589 ha, trong đó
có 325 ha lúa, 3 ha rau màu, 58 ha ao cá. Xã được bao bọc bởi một mạng
lưới sông ngòi, cung cấp nước cho nghề nuôi thủy sản.

Năm 2004, dân số toàn xã là 6667 người, với 1.674 hộ. Tổng số lao động là
2.587, chiếm 38,8% dân số. Lao động nông nghiệp chiếm 90,1% (2.350
người) trong lực lượng lao động. Trên 1.000 hộ (60 – 70%) trong xã có ao
nuôi cá. Về điều kiện kinh tế, các hộ có thể chia ra 3 nhóm: 1) hộ khá (chiếm
57%); 2) hộ trung bình (34%), và 3) hộ nghèo (9%) (xem hình 1).
Hình 1 Phân loại kinh tế hộ ở xã Tân Dân
3.2 Các sự kiện lịch sử
Các nông dân được yêu cầu vẽ trục thời gian với các sự kiện chính liên quan
đến nuôi trồng thủy sản (bảng 2). Trước năm 1960, nghề NTTS chủ yếu diễn
ra dưới hình thức quảng canh và diện tích sản xuất NTTS một phần thuộc sở
hữu tập thể, với 20 người tham gia quản lý, và một phần do HTX quản lý
(cũng với 20 ngườI). Năng suất nuôi vào thời gian đó khá thấp, chỉ đạt
khoảng 2,8 tấn/ha (bảng 3). Người dân địa phương thường bắt cá từ tự
nhiên. Ngư trường khai thác không chỉ hạn chế trong phạm vi huyện mà
người dân còn đi đánh bắt ở các nơi khác như Thái Thụy (Thái Bình), Ninh
Giang (Hải Dương). Năm 1960 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng. HTX
Nông nghiệp được thành lập, với hai tổ nuôi cá làm thành viên phụ trách sản
xuất giống và ương nuôi cá thịt. Sản lượng cá tăng vọt. Các giống cá mè
10
Nghiên cứu khả năng phát triển NTTS hữu cơ
trắng, trắm cỏ, trôi được sản xuất và cung ứng cho các hộ dân trong xã cũng
như các huyện và tỉnh khác. Hai tổ nuôi cá này còn tồn tại mãi đến năm
1985.
Bảng 2 Các sự kiện quan trọng trong lịch sử nghề nuôi trồng thủy sản ở
xã Tân Dân
Năm Sự kiện
Trước
1960
Người dân chủ yếu đánh bắt cá tự nhiên; sản lượng NTTS còn
thấp.
1960 Hợp tác xã nông nghiepẹ thành lập
1979 Thành ủy Hải Phòng ra Quyết định 24, khuyến khích 3 xã Tân
Dân, Thái Sơn và An Thắng hợp tác thả cá và quản lý sông ngòi
trên địa bàn 3 xã này
1986 Chính sách Đổi mới ra đời; đất nông nghiệp được chia đều cho
các nhân khẩu trong xã
1987 Các hộ dân quản lý phần đất và mặt nước được chia. NTTS bắt
đầu phát triển
1989 Cải tạo bờ sông, thả cá
1990 - Ông Liên (Việt Khê) thả vào diện tích ao 10ha của mình cá
trắm cỏ, mè trắng, chép, trôi Ấn, rô phi và trôi ta. Các hộ dân
khác lập tức làm theo
- Hệ thống ao chuôm được xây dựng
- Trận lụt lớn phá hủy cơ sở vật chất của nghề NTTS, toàn bộ cá
nuôi bị mất
- Tư thương tìm đến xã để mua bán
1992 Thức ăn tự nhiên cho cá trong ao tăng lên, do lần đầu tiên áp
dụng bón phân
1994 Lần đầu tiên xuất hiện dịch bệnh, khiến cá trắm chết hàng loạt
Đưa thuốc kháng sinh vào sử dụng
1995 Áp dụng bón phân (NPK). Các hộ tư nhân bắt đầu ương nuôi cá
giống
1997 Cá rô phi đơn tính và cá trê được đưa vào nuôi tại xã
2000 Lần đầu được chuyển giao công nghệ và tổ chức tập huấn về
khuyến ngư
Đưa vào nuôi các đối tượng mới: rô phi, chim trắng, cá chép
2002 Lần đầu tiên xảy ra dịch bệnh đối với trôi Ấn
2004 Đầu năm bị thiếu nước, nhưng cuối năm bị lũ lụt nghiêm trọng
làm phá hủy ao chuôm, khiến tòan bộ cá nuôi bị mất
Nghề nuôi cá trôi ta chấm dứt
11
Nghiên cứu khả năng phát triển NTTS hữu cơ
2005 Nuôi cá hữu cơ được phổ biến
Sau đợt cải cách về đất đai năm 1986 (trong phong trào “Đổi mới”) và vào
năm 1988, diện tích NTTS được giao cho các hộ dân. Từ đó trở đi, nghề
NTTS chuyển sang hướng thâm canh và diện tích mặt nước ao của mỗi hộ
đã được tăng thêm. Tổng diện tích NTTS lúc này đạt 19 ha. Ông Tèo và ông
Đậu (Lai Thi) là những người đầu tiên mở rộng và cải tiến ao nuôi nhà mình,
gia cố bờ ao, thả cá giống nhưng vẫn chưa chăm sóc theo đúng nghĩa (không
cho cá ăn). Cá nuôi chủ yếu ăn các thức ăn tự nhiên như cỏ, bèo, rau xanh.
Khi lượng thức ăn tự nhiên bị giảm sút, vào năm 1992, người dân đã bắt đầu
bón phân gây màu để nâng cao sản lượng. Năm 1997, cá rô phi đơn tính và
cá trê được đưa vào nuô. Đến năm 2000, tại xã đã tổ chức lớp tập huấn
khuyến ngư đầu tiên cho người dân tiếp cận với kỹ thuật nuôi tiên tiến.
Trong giai đoạn 1990 – 2005, 100 hộ có diện tích ao lớn, 1000 hộ có ao nhỏ,
và tổng số diện tích đã tăng lên 58 ha vào cuối năm 2005. Năm 1990, các hộ
nông dân được giao sử dụng đất nông nghiệp trong 10 năm (đến năm 1995
rút xuống còn 5 năm). Năm 2003, họ được giao lại với thời hạn 10 năm.
Bảng 3 Phát triển nuôi trồng thủy sản về số lượng hộ nuôi, diện tích
nuôi, năng suất và thu nhập từ 1960 đến nay
Giai
đoạn
Số hộ gia
đình
Diện tích
sản xuất
(ha)*
Năng suất
(tấn/ha)
Thu nhập
(tỷ đồng)
% tổng
thu nhập
1960-
1990
20 7,39 2,8 (100
kg/sào)
Các hộ
không nhớ
chính xác
không
nhớ
chính xác
1990-
2000
Không có
số liệu
34 4,2 (150
kg/sào)
Các hộ
không nhớ
chính xác
không
nhớ
chính xác
2000-
2005
1100 58 7,2 (170
kg/sào)
2.6 25
Chú thích: * Diện tích được mở rộng nhờ chuyển đổi ruộng năng suất thấp
sang NTTS
3.3 Sinh kế
Ở xã Tân Dân, sản xuất nông nghiệp (lúa, rau màu) là hoạt động chính, với
100% số hộ tham gia. Hầu hết các hộ nuôi trâu bò, lợn, gà (90%). Trong
85% số hộ, NTTS có một vai trò quan trọng. Các hoạt động phi nông nghiệp
đứng ở vị trí thấp hơn (xem bảng 4).
12
Nghiên cứu khả năng phát triển NTTS hữu cơ
Bảng 4 Các hoạt động tạo thu nhập ở xã Tân Dân và % các hộ tham gia
Họat động Tỷ lệ hộ tham gia
Trồng trọt (lúa, rau màu) 100%
Chăn nuôi (trâu bò, lợn, gia cầm) >90%
NTTS (ương, nuôi) 85
Các hoạt động phi nông nghiệp (cơ
khí, mộc, nề, ….)
20 – 30%
Buôn bán (rau quả, vật tư, ăn uống,
chạy chợ hoặc bán hàng tại nhà)
10%
Trung bình trong mỗi hộ dân, 50% nguồn thu nhập là từ trồng trọt, 35% từ
NTTS, 15% từ các hoạt động khác (hình 3a). Tại các hộ có nghề NTTS là
hoạt động tạo thu nhập chính, thì NTTS đóng góp tới 80% tổng thu nhập,
còn lại trồng trọt 15% và các hoạt động khác 5% (hình 3b).
Hình 2 Đóng góp từ các hoạt động kinh tế vào thu nhập bình quân (a)
xã Tân Dân, và (b) đối với hộ nuôi cá
a
b
13
Nghiên cứu khả năng phát triển NTTS hữu cơ
Mỗi hộ có tổng thu nhập khác nhau tùy thuộc vào nguồn tạo thu nhập đó.
Tổng thu nhập của một hộ lấy NTTS làm nghề chính đạt khoảng 15 triệu
đồng (tương đương 1000 USD) đến 150 triệu đồng (10.000 USD) mỗi năm,
và trung bình đạt 35 triệu đồng (2200 USD). Chi phí sản xuất và sinh hoạt
chiếm đến 70-80% tổng thu nhập. Việc mua sắm vật tư - trang thiết bị NTTS
tốn kém nhất, tiếp đó là đến chi phí mua giống (Bảng 5). Tiền tiết kiệm hàng
năm dao động từ 5 triệu đến 30 triệu đồng, và trung bình là 10 triệu.
Bảng 5 Các khoản chi phí theo miêu tả của các hộ NTTS – thứ tự theo
tầm quan trọng
Loại chi phí Xếp hạng
Vật tư - trang thiết bị 1
Giống 2
Thuê lao động 3
Sinh hoạt 4
Chi phí xã hội 5
Trả lãi tín dụng 6
Sửa chữa phương tiện sản
xuất
7
Chú thích: 1= quan trọng nhất; 7 = ít quan trọng nhất
Lao động tại chỗ được chia ra thành 2 nhóm nam và nữ (bảng 6). Phụ nữ
mỗi ngày dành 5 giờ cho công việc nội trợ, từ nấu ăn, giặt giũ, đi chợ đến
chăm sóc con cái. Họ cũng tham gia canh tác nông nghiệp: cho lợn gà ăn,
chở phân bón ra ao.
Bảng 6 Những hoạt động nông nghiệp phân chia theo giới
Nam giới Nữ giới
Cắt cỏ Nấu ăn
Cày bừa Đi chợ
Thủy lợi Cho cá ăn
Trồng lúa Chăm sóc con cái
Trông ao Giặt giũ
Bơm nước Cho lợn gà ăn
Khuấy dẻo Cắt cỏ
Cho cá ăn Chở phân bón ra ngoài
ao
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét