Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Tài liệu Sáng kiến kinh nghiệm - Áp dụng một số biện pháp để rèn kỹ năng nói trong giờ kể chuyện cho học sinh lớp 2 “chương trình mới doc

thời gian, giúp học sinh tìm hiểu truyện; ghi nhớ cốt truyện. Do đó, chương trình
đã dành được nhiều thời gian cho việc rèn kỹ năng nói cho học sinh.
Như chúng ta đã biết, việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh nhằm
đáp ứng mục tiêu giáo dưỡng mà chương trình đề ra là một việc làm không dễ
dàng, đòi hỏi phải có sự đầu tư về thời gian và sự phối hợp chặt chẽ giữa các phân
môn. Kể chuyện không phải là phân môn duy nhất có nhiệm vụ rèn kỹ năng nói.
Vì vậy chương trình Tiếng Việt tạo ra mối quan hệ giữa phân môn kể chuyện với
phân môn Tập đọc và Tập làm văn là một việc làm khoa học.
Kể chuyện là khả năng sử dụng ngôn ngữ ở dạng nói có tính nghệ
thuật. Đây là một dạng đặc biệt của đối thoại.
Thực tế cho thấy kể chuyện có một sức hấp dẫn kỳ lạ, đặc biệt với
học sinh lứa tuổi tiểu học. Sức hấp dẫn đó không hề giảm đi dù câu chuyện đã
được các em đọc trước nhiều lần. Bởi lẽ khi kể một câu chuyện, người kể không
trình bày nguyên văn một bản viết hay đọc lại văn bản đó, mà lúc này người kể
nhập vào một thế giới, khác với thế giới đang sống, đó là thế giới của câu chuyện.
Trong câu chuyện ấy, người kể lúc là người dẫn chuyện, lúc lại là nhân vật này
hoặc nhân vật khác. Người kể thể hiện tâm trạng của những nhân vật khác nhau,
khi thì vui sướng, hả hê, lúc lại buồn rầu, lo lắng.
Như vậy, kể chuyện thực sự mang tính tổng hợp. Nó sử dụng các hiểu
biết và kĩ năng dùng từ, đặt câu kĩ năng nghe, nói Tiếng việt, kĩ năng trình bày trước
công chúng. Nói cách khác đó là khả năng vận dụng những hiểu biết về ngôn ngữ, lý
thuyết sản sinh lời nói và sự hiểu biết về văn học vào việc kể chuyện.
Như vậy là học sinh đã được rèn luyện một hoạt động kĩ năng kể
chuyện, kĩ năng giao tiếp bằng lời của mình. Hệ thống các kĩ năng kể chuyện cũng
chính là hệ thống hoạt động sản sinh lời nói nhưng ở dạng kĩ năng sản sinh văn
bản mới.
Như vậy trên cơ sở hiểu biết về lý thuyết, lời nói, chúng ta có thể
ứng dụng để hướng dẫn học sinh hình thành những kĩ năng kể chuyện, giúp các
em kể tốt hơn và cũng là rèn luyện cho các em khả năng diễn đạt khúc triết, lưu
loát, ứng xử nhanh nhẹn, thông minh.
Một trong những lý do khiến trẻ rất thích giờ Kể chuyện là các em
được kể chuyện cho người khác nghe. Các nhà nghiên cứu cũng cho thấy rằng: trẻ
có nhu cầu rất lớn trong việc giao lưu với bạn, san sẻ những thu nhận mới lạ của
mình. Vì thế, kể lại cho cô, bố mẹ, ông bà nghe là một nhu cầu của học sinh tiểu
học. Để giúp các em thỏa mãn nhu cầu đó, ngoài việc vận dụng những hiểu biết về
ngôn ngữ, lý thuyết sản sinh lời nói, giáo viên cần giúp học sinh vận dụng những
hiểu biết về văn học, vận dụng năng lực cảm thụ văn học để lựa chọn cho mình
giọng kể phù hợp. Ví dụ các em nhận biết được trong câu chuyện đâu là lời thoại,
đâu là lời dẫn chuyện, các em sẽ có giọng kể khác nhau. Hay nếu các em cảm thụ
tốt, hiểu được tâm trạng của các nhân vật, tính cách, hoàn cảnh của họ thì các em
sẽ tìm được giọng điệu thích hợp với từng tâm trạng, từng tích cách mà có khi
người lớn khó có thể hình dung được.
Như vậy, trong giờ kể chuyện, hầu như học sinh được phát huy tối
đa khả năng nói của mình. Ngoài ra, để hình thành kỹ năng kể chuyện cho học
sinh còn phụ thuộc vào phương pháp, hình thức tổ chức của giáo viên. Phân môn
kể chuyện của chương trình tiểu học mới đã rất tiến bộ khi đưa vào những phương
pháp, hình thức tổ chức phù hợp cho việc rèn luyện kĩ năng nói của học sinh.
Chẳng hạn về phương pháp: có phương pháp kể chuyện bằng tranh, phương pháp
đàm thoại, phương pháp nhập vai, phân vai. Về hình thức tổ chức: hình thức lớp -
bài, hình thức học theo nhóm trong đó hình thức học theo nhóm là chủ yếu. Hình
thức học này giúp học sinh bình tĩnh, tự tin hơn và mạnh dạn nói ra ý kiến của
mình. ở đây, học sinh được tham gia nói nhiều hơn, được phát huy khả năng nói
của mình.
Phần III: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh qua
phân môn kể chuyện lớp 2, chương trình mới.
Trong cấu trúc SGK Tiếng Việt lớp 2, các câu chuyện được phân bố
như sau:
Thể loại truyện
Số
lượng
Tên truyện
Thần thoại
Truyền thuyết
2
Sơn Tinh, Thuỷ Tinh
Chuyện quả bầu
Cổ tích và cổ
tích
mới
5
Sự tích cây vú sữa
Hai anh em
Bà cháu
Tìm ngọc
Ông Mạnh thắng Thần Gió
Cười 0
Ngụ ngôn 6
Có công mài sắ
t có ngày nên
kim
Chuyện bốn mùa
Thể loại truyện
Số
lượng
Tên truyện
Một trí khôn hơn trăm trí khôn

Kho báu
Câu chuyện bó đũa
Quả tim khỉ
Danh nhân lịch sử 3
Ai ngoan sẽ được thưởng
Chiếc rễ đa tròn
Bóp nát quả cam
Khoa học 0
Người thực, việ
c
thực
0
Sinh hoạt 10
Phần thưởng
Bím tóc đuôi sam
Chiếc bút mực
Mẩu giấy vụn
Thể loại truyện
Số
lượng
Tên truyện
Người thầy cũ
Người làm đồ chơi
Bông hoa niềm vui
Sáng kiến của bé Hà
Con chó nhà hàng xóm
Những quả đào
Đồng thoại 3
Bạn của Nai nhỏ
Chim Sơn ca và bông cúc trắng

Bác sĩ Sói.
1. Rèn luyện kĩ năng nói qua phương pháp, hình thức tổ chức dạy học:
Theo luật giáo dục về yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục
tiểu học thì: phương pháp giáo dục tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động của từng học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học là một khâu quan trọng không thể
thiếu được trong quá trình giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện
đậm nét trong chương trình mới ở chỗ:
Chương trình tiểu học mới tập trung vào cách dạy học, đặc biệt là giúp
học sinh biết cách học và có nhu cầu tự học, khuyến khích dạy học cá nhân và dạy h ọc
hợp tác để phát triển năng lực theo tốc độ học, khả năng của từng học sinh.
Là một phân môn nằm trong chương trình tiểu học mới, phân môn
kể chuyện lớp 2 cũng được dạy theo phương pháp mới. Trong giờ kể chuyện, giáo
viên chỉ nêu đầu bài, yêu cầu và mục đích của tiết kể chuyện. Học sinh tự kể (cá
nhân) hoặc nhóm theo các yêu cầu đó. Giáo viên chỉ là người đạo diễn, hướng dẫn,
chỉ đạo, còn học sinh là diễn viên, là người thực hiện, chủ đạo trong tiết kể chuyện
đó. Giáo viên chỉ kể mẫu một lần, thậm chí giáo viên không cần kể mẫu, mà gọi
một học sinh khá kể mẫu, cho học sinh xung phong kể mẫu. Còn lại các học sinh
khác lần lượt kể theo đoạn và cả câu chuyện bằng nhiều hình thức khác nhau.
Trong khi học sinh kể, chỗ nào các em quên, lúng túng thì giáo viên nhắc một
cách khéo léo, tế nhị hoặc mời một học sinh khác nhắc giúp bạn học. Như vậy,
trong giờ dạy học kể chuyện, học sinh sẽ phát huy được khả năng nghe nói của
mình một cách tối đa. Hơn nữa giáo viên lại sử dụng các phương tiện dạy học như
tranh ảnh, một số dụng cụ thật với hình thức kể chuyện sắm vai, làm cho giờ học
kể chuyện thực sự sôi nổi, hấp dẫn.
Hình thức dạy học cũng được đổi mới: giáo viên có thể tổ chức dạy
học theo lớp, theo nhóm Trước kia giáo viên chỉ dạy theo lớp là chủ yếu, học
sinh ít được học theo nhóm. Học theo hình thức mới này sẽ giúp cho học sinh phát
triển kĩ năng nói trước lớp, trước đám đông.
Ví dụ bài: Con chó nhà hàng xóm (Tiếng Việt 2 - tập 1 trang 128)
yêu cầu dựa vào tranh kể lại từng đoạn câu chuyện đã học. Với tiết kể chuyện này,
giáo viên cho học sinh làm việc theo nhóm. Giáo viên cho học sinh quan sát tranh
1, sau đó đặt câu hỏi gợi ý:
- Bạn của Bé ở nhà là ai?
- Bé và Cún Bông đang làm gì?
Sau khi quan sát tranh 1, nghe giáo viên đặt câu hỏi, học sinh phải huy
động nhiều thao tác: nghe để nhớ câu hỏi, hiểu câu hỏi rồi các em vừa quan sát
tranh vừa nhớ lại nội dung câu chuyện đã được học để xác định nội dung câu trả
lời. Cuối cùng các em phải trình bày được câu trả lời của mình dưới hình thức nói.
Như vậy, để trả lời được câu hỏi, học sinh phải sử dụng nhiều thao tác bộ phận của
kĩ năng nói: nghe-nhớ, nghe-hiểu, xác định nội dung câu trả lời, nói. Đó là từng
hoạt động của từng học sinh, mỗi học sinh trong nhóm thảo luận với nhau để tìm
ra câu trả lời chính xác.
Sau khi học sinh đã nhớ lại được đoạn 1 của câu chuyện, giáo viên cho học
sinh kể. Đây là lúc các em bước đầu rèn luyện kĩ năng nói nhưng mới chỉ ở dạng
độc thoại. Lời kể của các em diễn ra liên tục, do đó các em ít có thời gian để
ngừng nghỉ, chuẩn bị. Chính vì vậy đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị kĩ càng nội
dung kể, tâm thế kể chuyện (thậm chí cả ngôn từ và các yếu tố phụ trợ). Khi kể
chuyện, ngoài việc tự nghe mình kể, các em còn phải lưu ý quan sát những phản
ứng từ người nghe, để có sự điều chỉnh phù hợp về nội dung, giọng kể, điệu bộ
Những học sinh khác, khi bạn kể chú ý nghe để nhận xét lời kể của bạn về
nội dung, về cách diễn đạt, cách thể hiện để bạn rút được kinh nghiệm và chính
bản thân các em cũng được bổ trợ những kinh nghiệm đó để điều chỉnh mình khi
kể.
Qua đây, ta thấy: rõ ràng phương pháp kể chuyện mới này đã có những tiến
bộ rõ rệt: trong tiết học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn chỉ đạo còn học sinh
mới thực sự là người làm cho tiết học sôi nổi, hấp dẫn hơn. Bởi trong tiết kể
chuyện, hoạt động của học sinh chiếm 2/3 tiết học. Như vậy có nghĩa là học sinh
được chủ động trong việc nghe nói, đẩy ngôn ngữ nói của các em lên một mức cao
hơn.
2. Rèn luyện kĩ năng nói qua hình thức kể chuyện theo tranh:
a. Thế nào là kể chuyện theo tranh?
Chúng ta cần phân biệt kể chuyện theo tranh và sử dụng tranh minh
hoạ cho truyện. Tranh ảnh là đồ dùng trực quan có thể được sử dụng trong bất kì
một môn học nào. Nhưng các môn học khác, sử dụng tranh khi giới thiệu khái
niệm hoặc nhằm minh hoạ cho khái niệm, nhưng ở tiết dạy kể chuyện của chương
trình cải cách giáo dục, giáo viên sử dụng tranh vẽ để minh hoạ cho nội dung
truyện, làm cho lời kể mẫu của mình sinh động và hấp dẫn hơn. Còn hình thức kể
chuyện theo tranh của chương trình mới thì hoàn toàn khác. Giáo viên phải chuẩn
bị đầy đủ tranh vẽ thể hiện nội dung, diễn biến của câu chuyện. Học sinh dựa vào
tranh vừa là phương tiện trợ giúp trí nhớ một cách đắc lực, vừa là công cụ làm cho
việc thể hiện lại câu chuyện một cách sinh động và hấp dẫn. Hình thức kể chuyện
theo tranh là hình thức rất hay, phát huy được khả năng quan sát, óc tưởng tượng,
đặc biệt là phát huy khả năng nói (ngôn ngữ) ở các em.
b. Hướng dẫn kể chuyện theo tranh của sách giáo khoa và sách giáo
viên:
* Trong sách giáo khoa:
Đa số các câu chuyện đều được kể theo tranh, mỗi bức tranh sẽ tương ứng
với nội dung của một đoạn truyện, thường thì mỗi câu chuyện có từ 3 đến 4 đoạn
nên có từ 3 đến 4 bức tranh minh hoạ. Nhưng cũng có những truyện có từ 5 đến 6
đoạn nên được minh hoạ bằng 5 đến 6 tranh, ví dụ như truyện Tìm ngọc (Tiếng
việt 2-trang 140 tập 1).
Tranh sử dụng trong kể chuyện có hai loại: tranh kèm lời gợi ý (dùng trong
những tuần đầu năm học) và tranh không kèm lời gợi ý (dùng trong những tuần
sau).
Trong việc áp dụng biện pháp này, giáo viên có thể sử dụng tranh trong
sách giáo khoa hoặc vẽ tranh lớn treo trên bảng.
+ Hướng dẫn đối với những truyện có tranh kèm theo lời gợi ý: Ví dụ
truyện “Có công mài sắt có ngày nên kim” (lớp 2-tập 1), sách giáo viên hướng dẫn
như sau:
* Quy trình hướng dẫn:
- Cho học sinh quan sát từng tranh.
- Giáo viên đặt câu hỏi gợi ý.
- Cho từng học sinh kể .
- Sau mỗi lần cho một học sinh kể, cho lớp nhận xét:
+ Về nội dung: Kể đã đủ ý chưa? Kể có đúng trình tự không?
+ Về cách diễn đạt: Nói đã thành câu chưa? Dùng từ có hợp không? Đã biết
kể bằng lời của mình chưa( mức độ cao)?
+ Về cách thể hiện: Kể có tự nhiên không? Đã biết phối hợp lời kể với điệu
bộ, nét mặt chưa? Giọng kể có thích hợp không?
* Kể theo tranh 1:
Câu hỏi gợi ý:
+ Cậu bé đang làm gì? Cậu đọc sách như thế nào?
+ Em hãy nhớ lại truyện đã đọc: Cậu bé tập viết như thế nào?
- Ví dụ về lời kể có sáng tạo: Ngày xưa có một cậu bé làm gì cũng chóng
chán. Cứ cầm đến quyển sách, đọc được vài ba dòng là cậu đã ngáp ngắn ngáp dài,
rồi gục đầu ngủ lúc nào không biết. Lúc tập viết, cậu cũng chỉ nắn nót được mấy
chữ đầu, rồi viết nguệch, viết ngoạc cho xong chuyện.
* Kể theo tranh 2:
Câu hỏi gợi ý:
- Tranh vẽ bà cụ đang làm gì?
- Cậu bé hỏi bà cụ điều gì?
- Bà cụ trả lời thế nào?
-C ậu bé có tin lời bà cụ nói không?
* Kể theo tranh 3:
Câu hỏi gợi ý:
- Bà cụ trả lời thế nào?
- Sau khi nghe bà cụ giảng giải, cậu bé làm gì?
Học sinh có thể tách lời giảng giải của bà cụ thành nhiều câu ngắn:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét