Luận văn tốt nghiệp Vũ Thu Chinh
- ở các miền của đất nớc: miền Bắc (miền núi tây bắc, miền núi đông bắc);
miền Trung (miền núi, trung du, duyên hải); miền nam (Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ,
Cực Nam v.v ), các vùng có đặc điểm xa, gần, giao thông vận tải khác nhau.
- ở các tỉnh, thành phố, trong tỉnh, ngoài tỉnh.
- Theo các vùng nông thôn: đồng bằng, trung du, miền núi với cách phân
loại này doanh nghiệp lu ý điều kiện khác để khai thác nguồn hàng đợc đúng yêu
cầu.
d. Theo mối quan hệ kinh doanh:
Theo tiêu thức này nguồn hàng của doanh nghiệp đợc chia thành:
- Nguồn hàng tự sản xuất, khai thác: Đây là nguồn hàng do chính doanh
nghiệp tổ chức bộ phận (xởng, xí nghiệp ) tự sản xuất, tự khai thác ra hàng hoá để
đa vào kinh doanh.
- Nguồn liên doanh, liên kết: Doanh nghiệp liên doanh, liên kết với đơn vị
khác có thế mạnh cùng để khai thác, sản xuất, chế biến ra hàng hoá và đa vào xuất
khẩu.
- Nguồn đặt hàng và mua: Đây là nguồn hàng doanh nghiệp đặt hàng với các
đơn vị sản xuất trong nớc hoặc xuất nhập khẩu, ký kết hợp đồng và mua về cho
doanh nghiệp để cung ứng cho thị trờng quốc tế v.v
- Nguồn hàng của đơn vị cấp trên: Trong cùng một hãng (tổng công ty) có các
công ty trực thuộc (cấp dới), nguồn hàng đợc điều chuyển từ đơn vị đầu mối về các
cơ sở xuất khẩu.
- Nguồn hàng nhận đại lý: Doanh nghiệp có thể nhận bán hàng đại lý cho các
hãng, doanh nghiệp sản xuất ở trong nớc, hoặc các hãng nớc ngoài. Nguồn hàng này
là của các hãng khác, doanh nghiệp nhận đại lý chỉ đợc hởng đại lý theo thoả thuận
với số hàng bán đợc.
- Nguồn hàng ký gửi: Doanh nghiệp có thể nhận bán hàng ký gửi của các
doanh nghiệp sản xuất, các hãng nớc ngoài, các tổ chức và cá nhân.Doanh nghiệp đ-
ợc hởng tỷ lệ ký gửi so với doanh số bán hàng.
5
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thu Chinh
Ngoài các tiêu thức trên, nguòn hàng của doanh nghiệp còn đợc phân loại theo
một số tiêu thức khác nhau: theo chất lợng hàng hoá (tính chất kỹ thuật cao, trung
bình, thông thờng); theo thời gian (nguồn hàng đã có, chắc chắn có, sẽ có); theo sự
tín nhiệm (lâu dài, truyền thống, mới, không có quan hệ trớc).
1.1.1.3 Vai trò của nguồn hàng xuất khẩu
Đối với doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh xuất khẩu thì nguồn hàng xuất
khẩu đóng một vai trò vô cùng quan trọng, đợc thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Nguồn hàng là một điều kiện của hoạt động kinh doanh. Với doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu, nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện hoạt động mua
để bán, nghĩa là mua hàng không phải để tiêu dùng cho chính mình mà
mua để bán lại cho ngời tiêu dùng trên thị trờng quốc tế. Nh thế, các
doanh nghiệp này cần phải hoạt động trên thị trờng đầu vào nhằm chuẩn bị
đầy đủ các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh nh vốn, sức
lao động, các bằng phát minh sáng chế và đặc biệt là hàng hoá và dịch vụ
để thoả mãn nhu cầu khách hàng. Do vậy, có nguồn hàng ổn định, đạt yêu
cầu là một nhân tố không thể thiếu đợc trong quá trình kinh doanh.
Nguồn hàng xuất khẩu đợc coi là đạt yêu cầu khi đáp ứng đợc ba yếu tố cơ bản
sau:
+ Số lợng: đáp ứng đầy đủ yêu cầu kinh doanh
+ Chất lợng: theo yêu cầu của khách hàng và các tiêu chuẩn cần thiết.
+ Thời gian và địa điểm: Phải hợp lý nhằm giảm bớt tối đa chi phí bỏ ra cho
hoạt động tạo nguồn và mua hàng.
Hơn nữa, trong trờng hợp xảy ra tình trạng khan hiếm một số loại hàng hoá mà
các doanh nghiệp khác không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách, một nguồn
hàng ổn định sẽ giúp cho doanh nghiệp lôi kéo thêm nhiều khách hàng mới, củng cố
uy tín với khách hàng cũ. Nh vậy, nó sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng khả năng bán
hàng.
- Nguồn hàng tác động mạnh mẽ đến kết quả thực hiện các chiến lợc kinh
doanh.Các chiến lợc cũng nh các kế hoạch kinh doanh thờng đợc xây dựng
theo tình huống thực tại thời điểm xây dựng.Tuy có tính đến biến động
6
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thu Chinh
của thị trờng song không đợc vợt qua một tỷ lệ biến động nào đó. Sự thay
đổi quá mức của đầu vào sẽ ảnh hởng đến giá đầu vào, chi phí, thời
điểm giao hàng, khối lợng cung cấp đã đợc tính đến trong hợp đồng đầu
ra. Không kiểm soát, chi phối, hoặc không đảm bảo đợc sự ổn định, chủ
động về nguồn hàng cho doanh nghiệp có thể phá vỡ hoặc làm hỏng hoàn
toàn chơng trình kinh doanh của doanh nghiệp.
- Nguồn hàng tốt còn giúp cho hoạt động tài chính của doanh nghiệp thuận
lợi. Bởi vì, khi đó hàng hoá sẽ đợc bán ra có chất lợng tốt, phù hợp với yêu
cầu của khách hàng về số lợng, thời gian và địa điểm giao hàng. Điều này
khiến cho doanh nghiệp bán đợc hàng nhanh, đẩy nhanh tốc độ lu chuyển
hàng hoá, cung ứng hàng diễn ra liên tục, tránh đứt đoạn. Mặt khác, nó
còn hạn chế bớt đợc tình trạng thừa, thiếu, hàng ứ đọng, chậm luân
chuyển, hàng kém phẩm chất, không bán đợc. Tất cả những điều trên sẽ
giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh, có tiền bù đắp chi phí kinh
doanh, có lợi nhuận để phát triển và mở rộng kinh doanh, tăng thu nhập
cho ngời lao động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nớc.
1.1.2 Hoạt động tạo nguồn hàng cho xuất khẩu
Khái niệm tạo nguồn hàng cho xuất khẩu
Tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là toàn bộ những hoạt động từ đầu t sản xuất,
kinh doanh cho đến các nghiệp vụ nghiên cứu thị trờng, ký kết hợp đồng, thực hiện
hợp đồng nhằm tạo ra hàng hoá có những tiêu chuẩn cần thiết cho xuất khẩu.
Hình thức của hoạt động tạo nguồn hàng cho xuất khẩu
* Liên doanh, liên kết tạo nguồn hàng
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, việc có sẵn các cơ sở sản
xuất kinh doanh nhng do điều kiện thiếu vốn, thiếu nguyên nhiên vật liệu, kỹ thuật,
thiếu cơ sở tiêu thụ sản phẩm làm cho các doanh nghiệp không nâng cao đ ợc chất
lợng và sản lợng mặt hàng. Doanh nghiệp có thể lợi dụng u thế của mình về vốn, về
nguyên vật liệu hoặc thị trờng tiêu thụ, cùng với các doanh nghiệp khác liên doanh,
liên kết để nâng cao chất lợng sản phẩm, nâng cao sản lợng sản phẩm sản xuất ra và
7
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thu Chinh
tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng. Liên doanh, liên kết bảo đảm lợi ích của cả hai bên
và lợi cùng hởng, lỗ cùng chịu.
* Gia công hoặc bán nguyên liệu mua thành phẩm
Có mặt hàng cha phù hợp với nhu cầu khách hàng, doanh nghiệp phải tiến
hành gia công mặt hàng. Gia công là hình thức đa nguyên vật liệu đến xí nghiệp gia
công và trả phí gia công khi xí nghiệp gia công đã giao hàng đủ tiêu chuẩn cho doanh
nghiệp. Hàng đã gia công phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Hình thức bán nguyên liệu mua thành phẩm là hình thức doanh nghiệp bán
nguyên liệu cho doanh nghiệp sản xuất và mua thành phẩm theo hợp đồng. Với hình
thức này nguyên liệu là của doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp sản xuất phải quản
lý và sử dụng sao cho hợp lý, tiết kiệm và bảo đảm chất lợng sản phẩm khi bán cho
doanh nghiệp. Doanh nghiệp không phải theo dõi, kiểm tra khi đa nguyên liệu vào
sản xuất.
* Tự sản xuất, khai thác hàng hoá
Với doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, có nguồn nguyên liệu có thể tự sản
xuất ra mặt hàng phù hợp với nhu cầu thị trờng hoặc tự khai thác nguồn hàng để đa
vào kinh doanh. Thực chất của hoạt động này là nhằm thực hiện đa dạng hoá kinh
doanh để mở rộng thị trờng, tăng doanh thu, phân tán rủi ro và bành trớng thế lực của
doanh nghiệp trên thị trờng. Đầu t vào sản xuất thì nguồn hàng vững chắc, vừa đảm
bảo lợi ích của ngời sản xuất vừa đảm bảo lợi ích của ngời kinh doanh (bộ phận kinh
doanh). Tuy nhiên, đầu t vào sản xuất đòi hỏi nguồn vốn lớn, sinh loại chậm và đặc
biệt phải biết công nghệ mới, tiên tiến.
* Đầu t cho cơ sở sản xuất và chế biến
Với những thế mạnh về vốn, về máy móc trang thiết bị, các bí quyết kỹ thuật,
các bằng sáng chế phát minh, doanh nghiệp có thể đầu t cho các cơ sở sản xuất và
chế biến để sản xuất ra hàng hóa.
1.1.3 Hoạt động mua hàng xuất khẩu
Khái niệm
8
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thu Chinh
Mua hàng xuất khẩu là hệ thống nghiệp vụ trong kinh doanh mua bán hàng
hoá nhằm có đợc hàng hoá xuất khẩu.
Do đó, mua hàng xuất khẩu là khâu kế tiếp tạo nguồn hàng xuất khẩu
Hình thức hoạt động mua hàng cho xuất khẩu
* Mua theo đơn đặt hàng và hợp đồng kinh tế ký trớc
Để có hàng hoá, dựa vào mối quan hệ kinh doanh và các nguồn hàng sẵn có,
hoặc chào hàng của ngời cung cấp, doanh nghiệp phải đặt hàng với các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh hoặc doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đơn hàng là yêu cầu cụ thể
về loại hàng hoá mà doanh nghiệp cần mua để đảm bảo nguồn hàng cung ứng cho
các khách hàng.
Đối với loại hàng hoá có nhiều quy cách, cỡ loại, nhiều dạng, kiểu, màu sắc,
cách đóng gói khác nhau thì đơn hàng là bản phụ lục hợp đồng để hai bên mua bán
ký kết và thực hiện việc giao nhận.
Mua hàng theo hợp đồng kinh tế đã ký kết và thực hiện việc giao nhận hàng có
chuẩn bị trớc, có kế hoạch trong hoạt động kinh doanh. Hình thức mua hàng này giúp
cho doanh nghiệp ổn định đợc nguồn hàng, có nguồn khá chắc chắn để đáp ứng nhu
cầu của khách hàng. Doanh nghiệp cần quan tâm, theo dõi, kiểm tra, giúp đỡ và hợp
tác chặt chẽ với đơn vị nguồn hàng để thực hiện đúng hợp đồng đã ký.
* Mua hàng không theo hợp đồng
Trong quá trình kinh doanh, tìm hiểu thị trờng, nguồn hàng, có những loại
hàng hoá doanh nghiệp kinh doanh, có nhu cầu của khách hàng, có thể mua hàng
không theo hợp đồng ký trớc bằng quan hệ hàng tiền, hoặc trao đổi hàng hàng.
Đây là hình thức mua đứt, bán đoạn và mua hàng trôi nổi (vẵng lai) trên thị trờng.
Với hình thức mua hàng này, ngời mua phải có trình độ kỹ thuật và nghiệp vụ mua
hàng thông thạo, phải kiểm tra kỹ số lợng, chất lợng hàng hoá và nếu có thể phải
xem xét nguồn gốc hàng hoá để bảo đảm hàng mua về có thể bán đợc.
* Mua qua đại lý
ở những nơi tập trung nguồn hàng, doanh nghiệp có thể có mạng lới mua trực
tiếp. ở những nơi nguồn hàng không tập trung, không thờng xuyên, doanh nghiệp có
9
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thu Chinh
thể ký các hợp đồng với các đại lý mua hàng. Việc mua hàng qua các đại lý thu mua,
giúp cho doanh nghiệp có thể gom đợc những mặt hàng có khối lợng không lớn,
không thờng xuyên. Mua hàng qua đại lý, doanh nghiệp cần có lựa chọn đại lý, ký
kết hợp đồng chặt chẽ về chất lợng hàng mua, giá cả mua và bảo đảm lợi ích kinh tế
của cả hai bên.
* Nhận bán hàng uỷ thác và ký gửi
Để có thể tận dụng mạng lới bán hàng, doanh nghiệp có thể nhận với các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc các doanh nghiệp thơng mại khác bán hàng
uỷ thác. Đây là loại hàng hoá không thuộc sở hữu và vốn của doanh nghiệp, mà là
hàng của doanh nghiệp uỷ thác, doanh nghiệp bán hàng uỷ thác sẽ nhận chi phí uỷ
thác.
Cũng tơng tự nh vậy, doanh nghiệp có thể nhận bán hàng ký gửi. Đây là
những hàng hoá do ngời ký gửi mang đến, họ đặt giá bán và nếu bán đợc, doanh
nghiệp sẽ đợc tỷ lệ phí ký gửi theo doanh số bán. Đối với loại hàng hoá bán uỷ thác
hoặc bán ký gửi, doanh nghiệp cần có điều lệ về nhận uỷ thác, nhận ký gửi để làm
phong phú thêm nguồn hàng của doanh nghiệp.
1.1.4 Sự cần thiết của hoạt động tạo nguồn và mua hàng xuất khẩu
Với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, hoạt động thơng mại quốc tế
nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng đang trở nên hết sức cấp bách và cần
thiết. Trong hoạt động xuất khẩu, hoạt động tạo nguồn và mua hàng cho xuất khẩu là
một khâu rất quan trọng. Nó là vấn đề cơ bản quyết định hoạt động xuất khẩu nói
riêng và hoạt động kinh doanh nói chung của doanh nghiệp thơng mại.
Mục đích của hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là thu lợi nhuận.
Nhng để thu đợc nhiều lợi nhuận thì doanh nghiệp phải bán đợc nhiều hàng hoá. Và
muốn bán đợc nhiều hàng hoá thì nhất thiết doanh nghiệp phải có đợc một nguồn
hàng tốt và ổn định. Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải tổ chức tốt hoạt động tạo
nguồn và mua hàng cho xuất khẩu.
Mặt khác, doanh nghiệp chủ động đợc nguồn hàng sẽ chủ động đợc hoạt
động kinh doanh của mình. Nếu quá trình tạo nguồn và mua hàng tốt, có hiệu quả sẽ
đáp ứng đợc các yêu cầu của khách hàng về số lợng và chất lợng hàng hoá, mở rộng
10
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thu Chinh
quy mô xuất khẩu, từng bớc tăng trởng và phát triển, nâng cao đợc uy tín của doanh
nghiệp trên thị trờng, từ đó đáp ứng nhu cầu không chỉ của một hay một số thị trờng
nhỏ hẹp nào đó mà còn đáp ứng nhu cầu của nhiều thị trờng khác với những đơn
hàng có giá trị lớn, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt
động kinh doanh, duy trì sự ổn định và tăng trởng cao. Ngợc lại, nếu doanh nghiệp tổ
chức hoạt động tạo nguồn và mua hàng không tốt sẽ không đảm bảo đợc yêu cầu của
khách hàng. Điều đó sẽ làm cho doanh nghiệp mất dần đi bạn hàng và thị trờng. Vì
vậy, không ngừng hoàn thiện hoạt động tạo nguồn và mua hàng xuất khẩu là một vấn
đề quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp.
1.2 Tạo nguồn và mua hàng nông sản xuất khẩu
1.2.1 Đặc điểm của mặt hàng nông sản xuất khẩu
1.2.1.1 Đặc điểm chung của mặt hàng nông sản
- Các mặt hàng nông sản thờng là những hàng hóa thiết yếu đối với đời sống
và sản xuất của mỗi quốc gia. Nó là một trong những mặt hàng có tính
chiến lợc bởi vì đại bộ phận việc mua bán hàng nông sản quốc tế đợc thực
hiện thông qua hiệp định giữa các Chính phủ, mang tính dài hạn. Cho nên
đa số các nớc trên thế giới đều trực tiếp hoạch định các chính sách can
thiệp vào sản xuất, xuất khẩu lơng thực và nớc nào cũng quý trọng chính
sách dự trữ quốc gia và bảo hộ nông nghiệp, coi an ninh lơng thực là vấn đề
cấp bách.
- Quá trình sản xuất, thu hoạch, buôn bán hàng nông sản mang tính thời vụ
bởi vì các loại cây trồng sinh trởng và phát triển theo quy luật sinh vật nhất
định. Mặt khác, do sự biến thiên về điều kiện thời tiết - khí hậu, mỗi loại
cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa
vụ khác nhau. Vào những lúc chính vụ, hàng nông sản dồi dào, phong phú
về chủng loại, chất lợng khá đồng đều và giá bán rẻ. Ngợc lại, lúc trái vụ,
hàng nông sản khan hiếm, chất lợng không đồng đều và giá bán thờng cao.
- Mặt hàng nông sản chịu tác động và ảnh hởng lớn của các điều kiện tự
nhiên, đặc biệt là các điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết. Chúng rất
nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh. Mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên
đều tác động trực tiếp đến sự sinh trởng và phát triển của cây trồng. Nếu
11
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thu Chinh
điều kiện tự nhiên thuận lợi thì cây trồng sinh trởng và phát triển bình th-
ờng, cho sản lợng thu hoạch cao, chất lợng tốt. Ngợc lại, nếu điều kiện tự
nhiên không thuận lợi nh: nắng nóng hoặc giá rét kéo dài gây hạn hán hoặc
bão lụt sẽ gây sụt giảm sản l ợng và chất lợng cây trồng.
- Chất lợng hàng nông sản sẽ tác động trực tiếp đến sức khỏe của ngời tiêu
dùng. Chính vì vậy, nó luôn là yếu tố đầu tiên đợc ngời tiêu dùng quan tâm.
Tại các quốc gia phát triển nhập khẩu hàng nông sản, ngày càng có nhiều
yêu cầu đợc đặt ra đối với hàng nhập khẩu về tiêu chuẩn chất lợng, vệ sinh
an toàn thực phẩm, kiểm dịch, xuất xứ Vì vậy, để xâm nhập vào các thị
trờng khó tính này buộc doanh nghiệp phải đáp ứng đợc những yêu cầu mà
họ đặt ra.
- Mặt hàng nông sản có đặc tính tơi sống nên khó bảo quản đợc trong thời
gian dài. Ngoài ra, yếu tố thời vụ của hàng nông sản dẫn đến tính không
phù hợp giữa sản xuất và tiêu dùng, do đó phải quan tâm đến khâu chế biến
và bảo quản cho tốt. Đó là một khâu quyết định đến chất lợng hàng nông
sản xuất khẩu.Hàng nông sản thêm vào đó dễ bị h hỏng, ẩm mốc,biến
chất ; chỉ cần để một thời gian ngắn trong môi trờng không bảo đảm về độ
ẩm, nhiệt độ thì mặt hàng nông sản sẽ bị h hỏng ngay.
- Chủng loại hàng nông sản hết sức phong phú đa dạng, chất lợng của một
mặt hàng cũng rất phong phú. Hàng nông sản đợc sản xuất ra từ các địa ph-
ơng khác nhau, với các yếu tố về địa lý, tự nhiên khác nhau, mỗi vùng, mỗi
hộ, mỗi trang trại có phơng thức sản xuất khác nhau với các giống nông
sản khác nhau. Vì vậy, chất lợng hàng nông sản không có tính đồng đều,
hàng loạt nh sản phẩm công nghiệp, do đó vấn đề quản lý chất lợng sản
phẩm phải đợc quan tâm trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng
nông sản
- Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xuất khẩu hàng nông sản
và cũng nhập khẩu hàng nông sản do điều kiện thời tiết, khí hậu, thổ nhỡng
ở các quốc gia là khác nhau. Do đó, mỗi quốc gia lại có mặt hàng nông sản
đặc trng. Tuy nhiên, để phát huy lợi thế tơng đối thì thông thờng các nớc
12
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thu Chinh
chậm phát triển và đang phát triển là những nớc xuất khẩu hàng nông sản
chủ yếu, hoạt động xuất khẩu hàng nông sản có tầm ý nghĩa chiến lợc đối
với các quốc gia này. Song do công nghệ chế biến thu hái còn lạc hậu nên
sản phẩm chủ yếu ở dạng thô hay chỉ qua sơ chế nên giá trị xuất khẩu cha
cao.
1.2.1.2 Đặc điểm của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chính.
Để đảm bảo yêu cầu xuất khẩu, các mặt hàng nông sản cần có các tiêu
chuẩn sau:
Gạo
Gạo đợc hiểu là phần còn lại của hạt thóc sau khi đã tách bỏ các vỏ trấu, một
phần hay toàn bộ cám và phôi. Tùy theo kích thớc, hình dạng hạt gạo, tỷ lệ gạo tấm,
gạo đợc phân thành: hạt rất dài, hạt dài, hạt trung bình, hạt ngắn. Về mặt cảm quan,
gạo phải có mùi vị, màu sắc đặc trng cho từng loại gạo. Về mức xát thì tùy thuộc vào
thỏa thuận của hợp đồng mua bán có thể chia ra: xát rất kỹ, xát kỹ, xát bình thờng.
Về tiêu chuẩn vệ sinh, các tiêu chuẩn thờng đề cập đến là: d lợng hóa chất, vi nấm,
côn trùng. Về cách bao gói, bảo quản và vận chuyển:
Bao gói: gạo thờng đóng trong bao đay mới, không rách thủng, phải bền chắc,
khô sạch, không mốc, không nhiễm sâu mọt, hóa chất, mùi vị lạ; thờng đóng khối l-
ợng tịnh 50-100kg/bao. Tùy theo thỏa thuận trong hợp đồng có thể dùng bao PE, PP,
vải
Bảo quản: gạo bảo quản trong bao phải đợc đóng bao. Kho đảm bảo chống
ma, chống hắt, chống thấm, thoáng mát, khô ráo, sạch sẽ, chống lây nhiễm nấm mốc,
côn trùng, chuột bọ. Nhiệt độ bảo quản tốt nhất là 18-22 độ C, có thể dùng các loại
thuốc trừ côn trùng theo quy định của cơ quan chuyên ngành.
Gạo bảo quản trong kho phải xếp riêng từng lô, trên bục thoáng đáy và cách t-
ờng không cao quá 15 lớp, xếp bao theo kiểu so le. Không xếp chung với gạo h hỏng
và các hàng hóa có mùi, hóa chất th ờng xuyên mở cửa thông gió tự nhiên khi
ngoài trời nắng ráo và độ ẩm không khí không quá 80%.
Vận chuyển: gạo đợc vận chuyển bằng mọi phơng tiện nhng phải khô sạch,
không nhiễm bẩn và không có mùi vị lạ, không nhiễm thuốc sâu, hóa chất, xăng dầu,
13
Luận văn tốt nghiệp Vũ Thu Chinh
côn trùng; có trang bị chống ma, chống nắng, không bốc dỡ khi trời ma, không dùng
dụng cụ bốc dỡ có thể gây rách bao.
Lạc.
Lạc đợc chia thành hai loại: lạc quả và lạc hạt.
Lạc quả cần đảm bảo các yêu cầu sau: lạc quả phải khô, độ ẩm không lớn hơn
2% khối lợng. Lạc quả phải tơng đối đồng đều, không đợc để lẫn 5% lạc quả các loại
và không đợc lẫn phép lẫn các hạt khác. Màu sắc, mùi vị và trạng thái bên ngoài bình
thờng đặc trng cho lạc quả đã đợc chế biến khô. Lạc quả không có sâu mọt, mốc.
Lạc hạt: phải chế biến khô, độ ẩm tính theo khối lợng không lớn hơn 70%.
Lạc hạt phải sạch, không có sâu mọt, đặc biệt loại trừ hạt có màu sắc nhợt nhạt, bị
mốc trắng, mốc xám hoặc bám đầy bào tử nấm mốc vàng xanh. Lạc hạt không đợc
phép lẫn các hạt lạc khác loại quá 5% và không đợc lẫn các hạt ve trấu. Màu sắc, mùi
vị, trạng thái bên ngoài đặc trng cho hạt lạc đã chế biến khô.
Cách bao gói, vận chuyển bảo quản:
Bao gói: lạc hạt, lạc quả phải đợc đựng trong bao gói bền, sạch, khô. Bao gói
không có mùi lạ ảnh hởng đến chất lợng, không có hiện tợng nhiễm bẩn và nấm mốc.
Lạc đợc đóng chặt, không lỏng, miệng bao xếp bằng nhau, mép gấp hai lần, đợc khâu
kín bằng dây khâu bền chắc, khô sạch.
Bảo quản: kho bảo quản phải khô ráo, thoáng mát, độ ẩm không khí tơng đối
đợc 70%. Lạc có thể bảo quản ở hai hình thức: đóng bao hoặc lạc đổ rời. Thời hạn
bảo quản đối với lạc vỏ không quá 12 tháng, đối với lạc hạt không quá 6 tháng.
Vận chuyển: phơng tiện vận chuyển phải sạch sẽ, khô, có điều kiện che ma
che nắng.
Chè:
Chè thờng đợc chia thành 2 loại chính là chè xanh và đen: Chè xanh là chè
sau khi làm héo đợc duyệt men, sau đó đem sao sấy.Chè đen là chè sau khi làm héo
thờng đợc lên men bằng phòng lạnh với điều kiện nhiệt độ thích hợp rồi mới đem sao
sấy.
Tuỳ theo các chỉ tiêu cảm quan về ngoại hình, màu nớc pha, mùi, vị, chè xanh
và chè đen lại đợc phân thành nhiều loại khác nhau: OP, P, FBOP, PS, BPS, F, DUST.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét