mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc
mất khả năng lao động, mất việc làm.
Đối tợng tham gia BHXH đó là ngời lao động và ngời sử dụng lao động,
tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tợng tham gia có
thể là tất cả hoặc một bộ phận ngời lao động nhng nhìn chung thì khi kinh tế
càng phát triển thì đối tợng tham gia càng đợc mở rộng nhiều bộ phận ngời lao
động khác.
b. Chức năng của BHXH.
- Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho ngời lao động và gia đình họ khi
ngời lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là
chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ
chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham
gia BHXH. Những ngời tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp
cho những ngời lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã
tiến hành phân phối lại thu nhập giữa ngời giàu - ngời nghèo, ngời khoẻ mạnh -
ngời ốm đau, ngời trẻ - ngời già Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần
thực hiện công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao
năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã đợc đảm bảo, họ không còn phải lo
lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến
họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện nh một đòn
bẩy kinh tế kích thích ngời lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và
kéo theo là năng suất lao động xã hội.
- Gắn bó lợi ích giữa ngời lao động với ngời sử dụng lao động, giữa ngời
lao động với nhà nớc góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa ngời lao
động và ngời sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lơng, thời gian lao
động, an toàn lao động BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ.
Nhà nớc thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi ngời lao động, ổn
định xã hội.
c. Tính chất của BHXH.
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Nh đã phân tích ở trên
rủi ro xây đến với cuộc sống của ngời lao động không hoàn toàn do ngời lao
động gánh chịu mà nó ảnh hởng tới ngời sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó
gây ra mâu thuẫn giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động làm giảm năng
suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nớc phải can thiệp thông qua
BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan.
- BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và
thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung cơ bản của BHXH, từ thời
điểm triển khai BHXH, ngời tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro
phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối
tợng.
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ,
tính kinh tế đợc thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho
hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội đợc thể hiện BHXH đợc sử dụng nhằm
bảo đảm ổn định cho những ngời lao động và gia đình họ. BHXH thể hiện tính
dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua nguồn vốn
nhàn rỗi).
3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.
Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH nh sau:
- BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc
gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ
chức và quản lý của mỗi quốc gia.
- Mọi ngời lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trớc BHXH
không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.
- Ngời sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với
ngời mà họ sử dụng.
+ Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng
quỹ lơng.
+ Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những ngời lao
động mà mình sử dụng.
- Các mức hởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:
+ Tình trạng sức khoẻ, thơng tật thông qua giám định y khoa.
+ Ngành nghề công tác của ngời lao động
+ Thời gian công tác và tiền lơng của ngời lao động
+ Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp
+ Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.
+ Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nớc qua từng thời kỳ.
- Nhà nớc thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các
chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.
II. Quỹ bảo hiểm xã hội, nguồn hình thành và sử dụng quỹ
BHXH.
1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà
nớc.
Quỹ BHXH đợc hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Ngời lao động đóng góp
- Ngời sử dụng đóng góp
- Nhà nớc bù thiếu
- Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi
đầu t vốn nhàn rỗi).
Phần lớn các nớc trên thế giới, quỹ BHXH đều đợc hình thành từ các
nguồn nêu trên, sở dĩ nh vậy bởi các lý do:
- Ngời lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh
chịu trực tiếp rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa
vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.
- Ngời sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho ngời lao
động một mặt sẽ tránh đợc những thiệt hại to lớn nh đình trệ sản xuất, đào tạo
lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với ngời lao động mặt khác nó giảm bớt đi
sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh
chấp giữa chủ và thợ.
- Nhà nớc tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cơng vị của
ngời quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội.
Do mối quan hệ giữa chủ - thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể
tự giải quyết đợc. Nhà nớc buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn
của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật. Không chỉ có nh vậy
nhà nớc còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH đợc ổn
định.
Phơng thức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao động
hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.
Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lơng cá nhân và quỹ lơng
của cơ quan, doanh nghiệp.
Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của ngời lao động đ-
ợc cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH.
Mức đóng góp BHXH, một số nớc quy định ngời sử dụng lao động phải
chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và
trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả ngời lao động và ngời sử dụng lao
động đóng góp mỗi bên một phần nh nhau.
Một số nớc khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc
chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH
2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.
Quỹ BHXH đợc sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:
- Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.
Trong công ớc quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao
gồm một hệ thống 9 chế độ sau:
1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
5. Trợ cấp tuổi già
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế.
9. Trợ cấp cho ngời còn sống.
Quỹ BHXH đợc sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.
Tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội mà các nớc tham gia công ớc quốc tế
Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số liệu thống
kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nớc thực hiện đủ 9 chế độ, 34 nớc còn thiếu
chế độ 3, 62 nớc cha thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên trong đó có một số chế
độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH các quốc gia đều phải đề
cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho ngời còn sống.
Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
+ Các chế độ đợc xây dựng theo luật pháp của mỗi nớc.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.
+ Mỗi chế độ đợc chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các
bên tham gia BHXH.
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.
+ Đồng tiền đợc sử dụng làm phơng tiện chi trả và thanh quyểt toán.
+ Chi trả BHXH nh là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ đợc đầu t có
hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
+ Các chế độ BHXH cần phải đợc điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự
thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.
Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn đợc chi
cho quản lý nh: tiền lơng cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống
BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác. Phần quỹ
nhàn rỗi phải đợc đem đầu t sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trởng nguồn quỹ.
Quá trình đầu t phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng
thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.
Phần II. Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam thực trạng và
giải pháp
I. Khái quát tình hình BHXH Việt Nam trong thời gian qua.
1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trớc NĐ 43CP - 1993.
Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nớc ta BHXH đã có từ trớc cách mạng
tháng 8 - 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã thực hiện
một số chế độ BHXH cho những ngời Việt Nam làm việc trong bộ máy cai trị
của họ.
Sau cách mạng tháng 8, Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà
nớc ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một số văn
bản sau:
Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức
nghỉ hu.
Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hu bổng cho công
chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để đợc hởng hu bổng, công chức nhà nớc phải
đóng vào quỹ hu đồng thời Nhà nớc cũng phải có trách nhiệm đóng thêm cho
công chức trong quỹ hu bổng.
Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hu trí đã quy định cụ
thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với
công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH ở nớc
ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này.
Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy
định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hu trí, tử tuất đối với công nhân. Tuy
nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không đợc thực hiện đầy đủ,
nhng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà n-
ớc và Bác Hồ đối với ngời lao động. Về mặt văn bản pháp luật thì đây là những
văn bản đầu tiên về BHXH ở nớc ta.
Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính
sách khác, Nhà nớc đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm
theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ thống
BHXH ở nớc ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp, mất sức lao động, hu trí và tử tuất. Đây là văn bản pháp luật hoàn
chỉnh nhất ở nớc ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH có những đặc điểm
sau đây:
+ Đối tợng đợc hởng BHXH và CNVC Nhà nớc và lực lợng vũ trang.
+ Đối tợng hởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ yếu
do ngân sách Nhà nớc đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các doanh
nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà nớc.
+ Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lơng và đan xen với các
chính sách xã hội khác.
+ Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao động,
công đoàn, Bộ Tài chính ).
Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập trung
bao cấp trong điều kiện đất nớc có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát huy đợc
tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân xâm lợc, chính
sách BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho công nhân viên chức, quân
nhân và gia đình họ góp phần động viên sức ngời, sức của cho sự thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc vào thống nhất đất nớc.
Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lợt ngời đợc hởng các chính sách
BHXH dới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác nhau.
Từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động, gắn bó
những ngời lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nớc .
BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lợng lao động nữ giúp chị
em ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất và
kinh doanh.
Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính u việt của chế độ xã hội góp
phần thực hiện một loạt những công ớc quốc tế đối với ngời lao động.
Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại rất
lớn đó là:
- Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn cha thấy
hết đợc vai trò của nó.
- Chính sách này đợc tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành
thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều
hiện tợng tiêu cực.
- Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực tế.
- Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho ngân
sách nhà nớc.
Khi nớc ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định h-
ớng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi
phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.
2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.
Hiến pháp 1992 nớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõNhà n-
ớc thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nớc và ngời làm công ăn l-
ơng, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với ngời lao động.
Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần
đổi mới chính sách BHXH theo hớng mọi ngời lao động và các đơn vị kinh tế
thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách
quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nớc Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII
nêu lên mở rộng chế độ BHXH đối với ngời lao động thuộc các thành phần
kinh tế.
Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nớc, chúng ta đã tiến
hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trờng, đợc đánh dấu
bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày 22/6/1993.
Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó, đối tợng tham
gia BHXH là mọi ngời lao động thuộc các thành phần kinh tế. Ngời tham gia
BHXH phải đóng phí bảo hiểm, ngời sử dụng lao động cũng phải đóng phí
BHXH cho ngời lao động mfa mình sử dụng, thuê mớn.
Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP và
cụ thể hoá Bộ luật lao động đợc quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có hiệu lực
từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/
CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới đợc coi là một cuộc cách mạng về
BHXH ở nớc ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lợng trong BHXH.
Sự thay đổi đợc thể hiện ở một số điểm sau đây:
- Đối tợng tham gia BHXH đã đợc mở rộng hơn so với trớc đây. Đối tợng
tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nớc. Ngời lao
động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nớc, các tổ chức kinh doanh dịch vụ
thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể,lực lợng vũ trang.
Những ngời giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan hành chính
sự nghiệp: mà còn mở rộng cho ngời lao động thuộc các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.
- Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều lệ
BHXH Việt Nam, BHXH nớc ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm
đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
chế độ hu trí và chế độ tử tuất. So với trớc đây chế độ trợ cấp mất sức lao động
đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi dụng.
- Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nớc.
Đợc hình thành trên cơ sở đóng góp của ngời lao động, ngời sử dụng sự hỗ trợ
của nhà nớc và từ các nguồn khác. Nh vậy các quan hệ tài chính trong BHXH
đợc thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải đợc cân đối
một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp BHXH của các bên còn thể hiện
nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ trong BHXH.
- Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính
sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa
các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hởng.
- Các chức năng quản lý Nhà nớc về BHXH đã tách khỏi các chức năng
hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thơng binh và xã hội đợc chính sách
giao trách nhiệm quản lý Nhà nớc BHXH. Hoạt động sự nghiệp BHXH là do cơ
quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và thống nhất quản lý
này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trớc đây nâng cao hiệu quả hoạt
động của BHXH.
Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích cực
vào việc lành mạnh hoá thị trờng lao động ở nớc ta; góp phần thực hiện bình
đẳng xã hôi và ổn định xã hội.
Tuy nhiên do BHXH ở nớc ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn mà
có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện
cho phù hợp với tình hình mới.
II. Thực trạng quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian qua.
a. Trớc Nghị định 43/CP/1993.
Nh chúng ta đã biết trong giai đoạn này BHXH Việt Nam đợc hoạt động
dựa trên các sắc lệnh của Nhà nớc và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức
kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý
Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.
Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nớc ta đang tiến hành một cuộc
kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản
về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH
nói riêng.
Trong thời gian này quỹ BHXH hầu nh có thể nói là tồn tại trên danh
nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nớc đợc ngân sách nhà nớc bảo hộ hoàn
toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các
doanh nghiệp và nhà nớc đóng góp, ngời lao động không phải đóng góp. Tuy
nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp
nhà nớc đợc Nhà nớc bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nớc, vì vậy nhìn
chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nớc đợc ngân sách nhà nớc
bảo trợ hoàn toàn.
Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế
độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị
định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nớc ta bao gồm 6 chế độ,
đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hu trí, tử tuất.
Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lơng và đan xen với nhiều chính
sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu
cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hu trí (có những ngời
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét