Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

luôn luôn biến động do sự tác động của các yếu tố bên ngoài
lẫn bên trong. Do đó, việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh còn hạn chế.
Quan điểm 3: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là quan hệ tỷ
lệ giữa phần trăm tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm
của chi phí
HQ= KQ/CP
quan điểm này đã biểu hiện được mối quan hệ so sánh
tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Nhưng sản
xuât kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm
có liên quan đến các yếu tố có sẵn. Chúng trực tiếp hoặc gián
tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh doanh thay đổi. Theo
quan điểm này, hiệu quả sản xuất kinh doanh chỉ được xét đến
kết quả bổ sung và chi phí bổ sung.
Như vậy, có thế chưa có sự thống nhất trong quan niệm
về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhưng ở các quan niệm khác
nhau đó ại có sự thống nhất cho rằng phạm trù hiệu quả kinh
doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh,
phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lúc để đạt được mục tiêu
cuối cùng: Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Qua các quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuât kinh
doanh, ta đưa ra khái niêm tổng quát về hiệu quả kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hieenh
sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh
các trình độ khai thác các nguồn lực và trình đọ chi phối các
nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục
tiêu kinh doanh. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng
của tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc
thực hiện muc tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời
kỳ.
1.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao
năng suất lao đọng vàã hội và tiết kiệm lao đông xã hội.Đây
chính là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả
kinh tế. Chính vì vậy, việc khan hiếm nguồn lực, việc sử dụng
chúng có tính cạnh tranh và ngay càng thỏa mãn cao của xã
hội, đặt ra yêu cầu là phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết
kiệm các nguồn lực. Để đạt được hiệu quả kinh doanh, các
doanh nghiệp buộc phải chú trọng tới các điều kiện nội tại,
phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và phait
tiết kiệm mọi chi phí đến mức tối đa.
Trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay, hiệu qủa
của kinh doanh được đánh giá trên hai tiêu thức hiệu quả xã
hội. Tùy theo từng thành phần kinh tế tham gia và hoạt động
kinh doanh mà hiệu quả kinh doanh theo hai hình thức này
cũng khác nhau.
Đối doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần thì tiêu thức kinh tế được quan tâm nhiều hơn.
Đối với công ty nhà nước có sự chỉ đại và góp vốn liên doanh
của nhà nước thì tiêu thức hiệu quả xã hội lại được đề cao hơn.
Điều này phù hợp với mục tiêu của chư nghĩa xã hội Mac-
LeNin. Đó là không ngừng nâng cao về vật chất và tinh thần
toàn xã hội, có nghĩa là tiêu thức quan tâm nhiều đến hiệu quả
xã hội cao. Các hoạt động sản xuất kinh doanh dù dưới bất kỳ
hình thức nào cũng chỉ có một mục tiêu đem lại lợi ích cho xã
hội, cho cộng đồng.
Tuy nhiên ta cũng có thế thấy hiếu quả về mặt kinh tế
cũng kéo theo hiệu quả về mặt xã hội. Khi hiệu quả kinh tế đạt
được tự khắc sẽ kéo theo hiệu quả mặt xã hội, mang lại lợi ích
cho xã hội.
Dù mục tiêu không phải là lợi ích xã hội. Đây là hai tiêu
thức có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. hiệu quả về
mặt kinh tế là lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được dẫu
khi đã bù đắp các khoản chi phí về lao động xã hội. Còn hiệu
quả về mặt xã hội là những lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp
tạo ra đem lại cho xã hội cho bản thân doanh nghiệp từ các
hoạt động kinh doanh của mình.
1.1.3 Vai trò của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh ngày càng đóng vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế của mỗi doanh nghiệp nói riêng và của
toàn xã hội nói chung được biểu hiện cụ thể trong các trường
hợp sau:
- Đối với nền kinh tế quốc dân: Hiệu quả kinh doanh là
một phạm trù kinh tế quan trọng phán ánh yêu cầu của quy
luật tiết kiệm thời gian, trình độ sử dụng các nguồn lực, trình
độ sản xuất và mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất trong
cơ chế thị trường sản xuất ngày càng hoàn thiện càng nâng cao
hiệu quả sản xuất.
- Đối với doanh nghiệp: Bất kỳ một doanh nghiệp nào
hoạt động trong nền kinh tế thị trường đặc biệt trong xu thế
toàn cầu hóa như hiện nay, trong điều kiện cạnh tranh diễn ra
ngày cang gay gắt thì điều kiện đầu tiên mà doanh nghiệp cần
phải quan tâm chính là hiệu quả của quá trình sản xuất kinh
doanh. Hiệu quả càng cao thì doanh nghiệp càng đứng vững
và phát triển.
Hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh là điều kiện
để đảm bảo tái sản xuất nhằm nâng cao sản lượng và chất
lượng của hàng hòa, giúp cho doanh nghiệp củng cố được vị
trí và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, củng cố
lại cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị, đầu tư công nghệ…. Nếu
doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, không bù đắp được
các chi phí đã bỏ ra thì đương nhiên doanh nghiệp sẽ không
những không phát triễn mà cìn khó đứng vững, tất yếu sẽ dẫn
đến phá sản. Như vậy, hiệu qủa sản xuất kinh doanh đối với
doanh nghiệp là hết sức quan tringj, nó quyết định sự sống còn
của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Nó có thể
khiến cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường, đạt được những
thành quả to lớn, nhưng cũng có thể phá hủy cả sự nghiệp của
một doanh nghiệp, xóa tên vĩnh viễn của doanh nghiệp ra khỏi
cac hoạt động kinh tế.
- Đối với người lao động: Hiệu quả sản xuât kinh doanh
là động ực thúc đẩy kích thích người lao động hăng say sản
xuất, luôn quan tâm đên hiểu quả lao động của mình và nhu
vậy sẽ đạt kết quả cao trong lao đông hơn. Nâng cao hiệu quả
kinh doanh cũng đồng nghĩa với việc nâng cao đời sống cho
người lao động trong doanh nghiệp. Việc nâng cao đời sống
cho người lao động sẽ tạo động lực trong sản xuất làm tăng
năng suất góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Mỗi người
lao động làm việc có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp kinh
doanh có hiệu quả và góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân.
1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
1.2.1 Hệ thống chỉ tiêu tổng quát
Công thức 1: phản ánh sức sản xuất của các chỉ tiêu đầu
vào

HĐSXKD
=
Giá trị KQ đầu ra
Giá trị các yếu tố đầu
vào

Trong đó:
Giá trị của kết quả đầu ra được đi bằng các chỉ tiêu: Tổng
doanh thu, tổng lợi nhuận trước thuế….
Gá trị yếu tố đầu vào: lao động, đối tượng lao động, vốn
chủ sở hữu, vốn vay…
HĐSXKD: hoạt động sản xuất kinh doanh
Công thưc 2: Phản ánh sức hao phí lao động của các yếu
tố đầu vào
HĐSXKD =
Giá trị của yếu tố đầu
vào
Giá trị KQ đầu ra

+ Doanh thu của doanh nghiệp:
* Doanh thu trong năm tài chính của doanh nghiệp:
Trong hoạt động kinh doanh để tạo ra đươc sản phẩm
hàng hóa dịch vụ, các doanh nghiệp phải dùng tiền mua sắm
nguyên nhiên vật liệu, công cuh dụng cụ…. để tiến hành sản
xuất tạo ra hàng hóa và dịch vụ sau đó thu tiền về tạo nên
doanh thu của doanh nghiệp. Ngoài phần doanh thu do tieu thụ
sản phẩm ra còn bao gồm các khoản doanh thu co hoạt động
tài chính và những khoản doanh thu khác mang lại
Nội dung doanh thu của doanh nghiệp bao gồm:
Doanh thu bán hàng và toàn bộ các khoản doanh thu tiêu
thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ. Đây là bộ phận chủ yếu chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu, nó quyết định sự tồn tại của
doanh nghiệp. Trong ngành doanh nghiệp, đây là doanh thu về
việc bán những sản phẩm do hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong ngành xây dựn cơ bản là doanh thu do thanh toán
những hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao. Trong
ngành nông nghiệp là doanh thu do bán hàng, những sản phẩm
trồng trọt, chăn nuôi, chế biến lại.
Doanh thu khác là doanh thu từ hoạt động kinh doanh
ngoài các hoạt động kể trên. Đó là khoản thu không mang tính
chất thường xuyên như doanh thu về thanh lý, nhượng bán tài
sản cố định, giá trị vật tư, tài sản thừa trong sản xuất, các
khoản nợ vắng chủ hay không ai đòi.
Doanh thu của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn với toàn
bộ hoạt động của doanh nghiệp. Trước hết, doanh thu là nguồn
quan trọng đảm bảo trang trải các khoản chi phí hoạt động
kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp co thể tái sản xuất đơn
giản cũng như tái sản xuất mở rộng thự hiện nghĩa vụ đối với
nhà nước như nộp thuế theo quy định, là nguồn có thể tham
gia góp vốn cổ phần, tham gia liên doanh liên kết, liên kết với
đơn vị khác.
* Doanh thu tieu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ là toàn bộ số
tiền bán sản phẩm, hàng hóa cung ứng dịch vụ trên thị trường
sau khi đã khấu trừ các khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá
hàng bán, hàng bán bị trả lại. Trong doanh thu cũng bao gồm
trợ giá của Nhà Nước khi thực hiện việc cung cấp hàng hóa
dịch vụ theo yêu cầu của Nhà Nước. Trong ngành công nghiệp
do tính chất sản xuất ít bị lệ thuộc vào thiên nhiên và thời vụ.
Doanh thu tiêu thụ phản ánh quy mô của quá trình tái sản xuất
của doanh nghiệp, phản ánh trình độ chỉ đạo tổ chức sản xuất
kinh doanh, tổ chức công tác thanh toán. Có doanh thu bán
hàng chuwnfs tor doanh nghệp đã sản xuất sản phẩm hang hóa
và đã cung cấp hàng hóa dịch vụ được người tiêu thụ chấp
nhận.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm là nguồn quan trọng để
doanh nghiệp trang trải nguồn chi phí đã hao phí trong quá
trình sản xuất kinh doanh đồng thời để thực hiện nghĩa vụ tài
chính với Nhà Nước. Thực hiện doanh thu bán hàng đầy đủ
kịp thời đã góp phần tăng tốc độ chu chuyển vốn lưu động tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất sau Doanh thu tiêu
thụ sản phẩm cùng với hàng hóa dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi
các yếu tố như số lượng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, chất
lượng sản phẩm, kết cấu mặt hàng, giá thành sản phẩm và vấn
đề thanh toán tiền hàng.
* Lập kế hạch doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp
Hàng năm doanh nghiệp đều phải lập kế hoạch tiêu thụ
sản phẩm, trên co sở đó, xác định doanh thu về tiêu trhuj sản
phẩm hàng hóa dịc vị trong năm. Chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ
sản phẩm hàng hóa dịch vụ là một chỉ tiêu tài chính quan
trọng. Về cơ bản doanh nghiệp lập kế hoạch về doanh thu bao
gồm hai phần:
- Lập kế hoạch doanh thu các hoạt động kinh doanh: Đó
là kế hoạch về doanh thu đối với tiền bán sản phẩm hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, kế hoạch thu tuef phần trợ giá của Nhà
Nước ( Nếu doanh nghiệp thực hiện cung ứng hoang hóa dịch
vụ theo yêu cầu của Nhà Nước). Ta có công thức:
T =
Trong đó:
T: Doanh thu về tiêu thụ hàng hóa
G
ti
: Là giá bán đợn vị sản phẩm
i: loại sản phẩm tiêu thụ
S
ti
: Là số lượng tiêu thụ sản phẩm của từng kỳ kế hoạch (
bao gồm cả các sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp dùng
làm quà tặng, quá biều hay tiêu dùng nội bộ)
Nếu doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm và cũng
tiêu thụ nhiều sản phẩm thì khi tính doanh thu tổng hợp sẽ là
doanh thu tiêu thụ của từng bộ phận trong sản phẩm kế hoạch.
Bộ phần sản phẩm sản xuất trong năm kế hoạch có thể không
tiêu thu hết mà để bán ở năm sau đồng thời trong năm kế
hoạch có thể lưu những sản phẩm đã sản xuất ở năm trước. Vì
vậy, số sản phẩm tiêu thụ ở kỳ kế hoạch phụ thược váo số
lượng sản xuất ra trong kỳ kế hoạch. Công thức tính sản phẩm
tiêu thụ ở kỳ kế hoạch như sau:
S
ti
= S
đi
+ S
xi
- S
ci
Trong đó:
S
đ
: Số lượng sản phẩm kết dự tính đầu kỳ kế hoạch
S
x
: Số lượng sản phẩm trong kỳ
S
c
: Số lượng sản phẩm kết dư dự tính trong kỳ kế hoạch
i: Là loại sản phẩm
Lập kế hoạch doanh thu từ hoạt động khác: Vào đầu năm kế
hoạch doanh nghiệp nào cũng phải lập kế hoạch doanh thu về
các hoạt động khác: mua bán chừng khoán, cổ phiếu và trái
phiếu
+ Các khoản chi phí:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét