b) Căn cứ vào qui định của pháp luật về điều kiện của vốn để thành lập
doanh nghiệp thì vốn bao gồm: vốn pháp định và vốn điều lệ:
+ Vốn pháp định là vốn tối thiểu phải có của một doanh nghiệp khi thành lập
doanh nghiệp và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp theo quy định
của pháp luật. Số vốn này là bảo đảm trên cơ sở của luật pháp cho hoạt động kinh
doanh của một doanh nghiệp. Qui mô của vốn pháp định tuỳ thuộc vào tính chất
và qui mô của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Vốn điều lệ là loại vốn đợc hình thành theo điều khoản vốn trong điều lệ
của doanh nghiệp.
c) Căn cứ vào tính chất sở hữu đối với khoản vốn sử dụng thì vốn của
doanh nghiệp đợc chia thành vốn chủ sở hữu (vốn cổ phần) và vốn vay nợ.
Hai loại vốn này đợc phân biệt với nhau qua bảng 1.1.1.2:
Vốn vay Vốn cổ phần
1) Ngời tài trợ không phải chủ sở hữu
của doanh nghiệp.
1) Do các chủ sở hữu của doanh nghiệp tài trợ.
2) Phải trả lãi cho các khoản tiền vay. 2) Không phải trả lãi cho vốn cổ phần đã huy
động mà sẽ chia lợi tức cổ phần cho các chủ sở
hữu.
3) Có thời hạn sử dụng. Hết thời hạn
doanh nghiệp phải hoàn trả nợ cho chủ
nợ hoặc xin gia hạn mới.
3) Không hoàn trả những khoản tiền đã huy
động.
4) Khi huy động doanh nghiệp phải có
bảo đảm (tài sản hoặc tín chấp)
4) Khi huy động không phải có bảo đảm bằng
tài sản.
5) Vốn nợ gồm các khoản cụ thể sau :
+ Vốn tín dụng hay vốn vay:
Vay ngắn hạn.
Vay trung hạn .
Vay dài hạn.
+ Vốn chiếm dụng (vốn trong thanh
toán).
5) Vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản cụ thể
sau :
+ Vốn tự có.
+ Vốn tự bổ sung.
+ Các khoản chênh lệch đánh giá lại tài sản,
chênh lệch tỷ giá cha xử lý.
+ Các quỹ đợc hình thành trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp (quỹ dự trữ,
quỹ phát triển sản xuất )
5
Xem xét vốn trên góc độ quyền sở hữu của doanh nghiệp cho ta thấy quy mô
sở hữu của doanh nghiệp. Trong cơ chế thị ttrờng quy mô vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp là một trong những tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh của doanh nghiệp.
d. Theo thời gian.
Căn cứ vào thời gian thì toàn bộ nguồn vốn của doanh nghiệp đợc chia thành
hai loại: nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.
Trong đó nguồn vốn ngắn hạn bao gồm các nguồn vốn có thời gian hoàn trả
trong vòng một năm, lãi suất huy động nguồn vốn ngắn hạn thấp hơn so với lãi
suất huy động nguồn vốn dài hạn. Nguồn ngắn hạn thờng đợc huy động dới hình
thức nợ vay và các công cụ huy động nguồn vốn ngắn hạn thờng đợc trao đổi trên
thị trờng tiền tệ.
Khác với nguồn vốn ngắn hạn, nguồn vốn dài hạn có thời gian đáo hạn từ
một năm trở lên, lãi suất huy động nguồn này cao và đợc huy động dới hình thức
nợ vay hoặc vốn cổ phần. Các công cụ huy động nguồn vốn dài hạn thờng đợc trao
đổi trên thị trờng vốn.
1.1.2. Vai trò của vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức đợc thành lập chủ yếu nhằm mục đích kinh
doanh. Đối với doanh nghiệp, vai trò của vốn đợc thể hiện chủ yếu dới những khía
cạnh chính sau đây:
- Trớc hết, vốn là điều kiện cho sự ra đời và tồn tại của doanh nghiệp. Theo
qui định của pháp luật của tất cả các nớc trên thế giới thì điều kiện để thành lập
doanh nghiệp là chủ doanh nghiệp phải có một mức vốn tối thiểu theo quy định
của pháp luật đối với mỗi ngành nghề kinh doanh. Trong quá trình kinh doanh,
vốn của chủ doanh nghiệp có thể tăng, có thể giảm nhng không đợc giảm xuống d-
ới mức vốn pháp định. Trong trờng hợp vốn của chủ doanh nghiệp giảm xuống dới
mức tối thiểu hoặc là không đủ khả năng thanh toán nợ đến hạn mà chủ sở hữu
không tăng đợc mức vốn chủ sở hữu để đảm bảo mức vốn pháp định hoặc đảm bảo
khả năng thanh toán nợ tới hạn thì doanh nghiệp bị giải thể (lâm vào tình trạng
phá sản).
6
- Thứ hai, vốn là đầu vào không thể thiếu đợc của sản xuất. Trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn đợc sử dụng để trang trải các khoản chi phí
nh mua sắm nguyên vật liệu, trả lơng công nhân, mua sắm trang thiết bị và các chi
phí khác. Kết thúc một chu kì sản xuất, vốn đó lại tiếp tục đợc sử dụng để tái sản
xuất và tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp. Các chu kì vận động này của vốn
đợc thực hiện trong suốt vòng đời của doanh nghiệp.
- Trên góc độ quản trị thì vốn là điều kiện tiền đề để thực hiện các quyết
định kinh doanh mà quan trọng nhất là các quyết định đầu t. Vốn là điều kiện để
đảm bảo cho dự án có thể thực hiện đợc. Mọi quyết định đầu t đều phải dựa trên
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu không thì quyết định đầu t đó rất dễ rơi
vào một trong hai trờng hợp sau: một là, dự án thực hiện sẽ hứa hẹn đem lại hiệu
quả rất tốt nhng doanh nghiệp không thực hiện đợc do vốn đầu t đòi hỏi quá lớn,
doanh nghiệp không có khả năng huy động đợc; hai là, dự án lựa chọn có mức vốn
đầu t quá nhỏ so với tình hình tài chính của doanh nghiệp trong khi đó lại bỏ qua
các dự án cần mức vốn đầu t cao hơn và đem lại hiệu quả cao hơn. Ta thấy rằng,
các quyết định đầu t rơi vào một trong hai trờng hợp trên đều không có tính hiệu
quả. Vốn còn là điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện các chính sách cạnh tranh
nh chính sách giá cả, chính sách quảng cáo, xâm nhập thị trờng Thực tế cho thấy
doanh nghiệp nào trờng vốn hơn thì sẽ có u thế cạnh tranh hơn. Qui mô của vốn
cũng ảnh hởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp; tuy vốn không phải là yếu tố duy
nhất đóng vai trò quyết định nhng vốn lớn sẽ đem lại lợi nhuận lớn.
1.2. Các hình thức và điều kiện huy động vốn :
1.2.1. Các hình thức huy động vốn đối với doanh nghiệp công nghiệp.
Nh đã biết ở trên vốn cho tăng trởng và phát triển đã trở thành vấn đề thời sự
đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, trớc những cơn đói vốn triền miên nếu doanh
nghiệp tích cực, chủ động tìm nguồn thì hoàn toàn vẫn có thể thu hút đợc một lợng
vốn đáng kể cho sản xuất kinh doanh. Sản xuất kinh doanh trong nề kinh tế thị tr-
ờng đòi hỏi sự tồn tại một lợng tiền tệ nh là một tiền đề bắt buộc. Không có vốn sẽ
không có bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Một lợng tiền vốn nh thế
7
chỉ có thể có đợc thông qua con đờng ghép nhiều nguồn vốn mà thành. Đó chính
là quá trình huy động, tập trung vốn trong sản xuất kinh doanh.
Quá trình này có thể tiến hành bằng một số hình thức sau :
a.Vốn do ngân sách cấp :
Vốn ngân sách cấp cho các doanh nghiệp Nhà Nớc có ý nghĩa vô cùng to
lớn, nó thờng đợc sử dụng cho đầu t dài hạn, mở rộng doanh nghiệp. Tuy nhiên
thực tế hiện nay nguồn vốn này đang có chiều hớng giảm.
b. Vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Trong thực tế nền kinh tế thị trờng không một doanh nghiệp nào hoạt động
mà không vay vốn ngân hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất. Tất nhiên
nhu cầu vốn vay đối với mỗi doanh nghiệp là khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện
và mục tiêu của doanh nghiệp đó. Nguồn vốn vay ngân hàng có thể chia thành hai
loại chính là vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn. Trong đó vay ngắn hạn là
những khoản vay có thời hạn trong vòng một năm, vay dài hạn là những khoản vay
có thời hạn lớn hơn một năm.
b.1. Vay ngắn hạn.
Vay ngắn hạn là phơng thức huy động vốn quan trọng đối với các doanh
nghiệp. Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng có thể đáp ứng nhu cầu vốn tức
thời cho doanh nghiệp từ vài ngày cho tới cả năm với lợng vốn theo nhu cầu kinh
doanh của doanh nghiệp.
Vốn vay ngắn hạn đợc huy động theo các phơng thức sau:
Vay theo hạn mức tín dụng
Theo phơng thức này, doanh nghiệp và ngân hàng thoả thuận trớc về hạn mức
tín dụng, tức là ngân hàng cho doanh nghiệp vay trong một hạn mức mà không
phải thế chấp. Trong hạn mức này, doanh nghiệp có thể vay bất cứ lúc nào mà
ngân hàng không cần thẩm định. Hạn mức tín dụng đợc ngân hàng tạo sẵn cho
doanh nghiệp do mối quan hệ kinh tế giữa hai bên, thông thờng hạn mức này mỗi
năm đợc thoả thuận lại một lần tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể.
8
Đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhng đôi khi gây ra trục trặc: khi ngân
hàng gặp khó khăn về tài chính hay thanh toán thì công ty phải hoàn trả hoặc
không đợc vay.
Vay theo hợp đồng: Theo hình thức này khi doanh nghiệp có những hợp
đồng về sản xuất gia công cho khách hàng thì ngân hàng có thể cho vay căn cứ
vào các hợp đồng đã đợc ký kết trớc đó.
- Vay có đảm bảo: bao gồm các hình thức sau:
+ Huy động vốn bằng cách bán nợ: Một công ty có thể huy động vốn bằng
cách bán các khoản nợ của mình. Các tổ chức mua nợ thờng là các ngân hàng hoặc
các công ty tài chính. Sau khi việc mua bán đợc hoàn tất, bên mua nợ căn cứ vào
hoá đơn chứng từ để thu hồi nợ và quan hệ kinh tế lúc này là của của ngời nợ và
chủ nợ mới lúc này là bên mua nợ.
+ Huy động vốn vay bằng cách thế chấp các khoản phải thu: Các công ty
trong quá trình hoạt động có thể đem các hoá đơn thu tiền làm vật đảm bảo cho
khoản vay. Số tiền mà các ngân hàng cho vay tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của các
hoá đơn thu tiền nhng thông thờng tỷ lệ giá trị cho vay chiếm khoảng 30- 90% giá
trị danh nghĩa của các hoá đơn thu tiền.
+ Huy động vốn vay bằng cách thế chấp hàng hoá: Hàng hoá cũng thờng
đợc sử dụng để thế chấp cho các khoản vay ngắn hạn, giá trị của khoản vay phụ
thuộc vào giá trị thực của hàng hoá. Trong trờng hợp chấp nhận cho vay, ngân
hàng phải tính đến tính chất chuyển đổi của các tài sản thành tiền và tính ổn định
về giá cả của hàng hoá đó.
b.2. Vay dài hạn.
Vay dài hạn là hình thức huy động vốn bằng cách đi vay các tổ chức tài chính
dới dạng hợp đồng tín dụng và doanh nghiệp phải hoàn trả khoản vay theo lịch
trình đã thoả thuận. Sử dụng nguồn vốn vay dài hạn thờng đợc trả vào các thời hạn
định kì với các khoản tiền bằng nhau, đó là sự trả dần khoản vay cả gốc và lãi
trong suốt thời hạn vay. Loại giao dịch này rất linh hoạt vì ngời vay có thể thiết lập
lịch trả nợ phù hợp với dòng thu nhập của mình.
9
Lãi suất của nguồn vốn vay dài hạn đợc áp dụng theo hai cách, tuỳ theo sự
thoả thuận giữa ngân hàng và doanh nghiệp.
Lãi suất cố định: Là lãi suất không biến đổi theo biến đông của thị trờng. Đ-
ợc áp dụng khi ngời vay tiền muốn có hợp đồng cố định và không lo lắng trớc
những biến động của thị trờng. Lãi suất cố định căn cứ vào mức độ rủi ro và thời
gian đáo hạn của khoản vay.
Lãi suất thả nổi: Là lãi suất có thể thay đổi theo sự biến động của thị trờng.
Lãi suất thả nổi đợc thiết lập dựa trên phần trăm lãi suất ban đầu ổn định cộng với
tỷ lệ phần trăm nào đó tuỳ thuộc vào mức rủi ro có liên quan đến khoản vay.
c. Huy động vốn chủ sở hữu từ lợi nhuận để lại.
Lợi nhuận để lại là phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi đã nộp các khoản
cần thiết và trích lập các quỹ của doanh nghiệp. Huy động vốn chủ sở hữu từ lợi
nhuận giữ lại là hình thức tài trợ nội bộ. Đối với công ty cổ phần quyền lợi của các
cổ đông bao gồm phần cổ tức chia hàng năm và phần tăng giá trị cổ phiếu trên thị
trờng. Các cổ đông chỉ chấp nhận mở rộng qui mô công ty khi quyền lợi của họ
không bị ảnh hởng. Với phơng thức huy động vốn từ lợi nhuận để lại các cổ đông
không bị chia sẻ quyền kiểm soát công ty và họ thể hởng toàn bộ cổ tức tăng thêm
và chênh lệch giá cổ phiếu. Một công ty khi thực hiện phơng thức huy động vốn từ
lợi nhuận để lại, phải đặt ra mục tiêu có một khối lợng lợi nhuận đủ lớn để đáp
ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng.Việc tái đầu t có thể thực hiện bằng cách ghi tăng
giá trị sổ sách của cổ phiếu từ đó làm tăng thị giá cổ phiếu hoặc phát hành thêm cổ
phiếu thờng và cổ đông sẽ nhận cổ phiếu thay bằng nhận thu nhập dới dạng cổ tức.
Đối với một doanh nghiệp không phải là một công ty cổ phần, lợi nhuận để
lại sẽ đợc tăng cờng vào quỹ đầu t và phát triển. Không nh các quỹ khác, nguồn
vốn từ quỹ đầu t phát triển sẽ tiếp tục tham gia vào quá trình sản xuất trực tiếp
mang lại lợi nhuận mới cho doanh nghiệp.
Tựu chung lại, một doanh nghiệp nếu muốn huy động vốn theo phơng thức
này phải thực sự làm ăn có lãi, đạt đến mức lợi nhuận để lại cao. Lợi nhuận thể
hiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời là cơ hội
cho doanh nghiệp tái đầu t mở rộng hoạt động của mình trong thời gian tới.
10
d. Huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu.
Trái phiếu là một công cụ vay nợ trung và dài hạn, phát hành trái phiếu là ph-
ơng thức huy đông vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp. Phát hành trái phiếu
tức là doanh nghiệp đã tăng nợ trong tổng nguồn vốn của mình, trên trái phiếu có
ghi đầy đủ các yếu tố: mệnh giá, thời hạn và lãi suất.Có nhiều loại trái phiếu, mỗi
loại có đặc điểm riêng, căn cứ vào đó doanh nghiệp lựa chọn và quyết định phát
hành loại trái phiếu nào là phù hợp.
d.1. Trái phiếu có đảm bảo và trái phiếu không có đảm bảo.
Trái phiếu có đảm bảo: Là một loại trái phiếu đợc đảm bảo bằng tài sản của
doanh nghiệp. Tài sản đảm bảo thờng là các bất động sản, trong một số trờng hợp
có thể là nhà xởng hay những thiết bị sản xuất đắt tiền. Khi phát hành trái phiếu có
đảm bảo, doanh nghiệp có trách nhiệm duy trì, giữ gìn tài sản đảm bảo ở tình trạng
tốt nhất. Một tài sản có thể đảm bảo cho nhiều lần phát hành trái phiếu nhng tổng
tất cả các trái phiếu không thể lớn hơn giá trị tài sản. Loại trái phiếu này đem lại
độ an toàn khá cao cho trái chủ.
Trái phiếu không có đảm bảo: Đây là loại trái phiếu đợc sử dụng phổ biến ở
các doanh nghiệp. Nó không đợc bảo đảm bằng bất cứ loại tài sản nào nhng nó đ-
ợc bảo đảm bằng thu nhập tơng lai và giá trị thanh lý của các tài sản doanh nghiệp
theo thứ tự u tiên theo luật phá sản.
d.2. Trái phiếu có qui định khác nhau về lãi suất.
Trái phiếu trả theo thu nhập: Là trái phiếu mà tiền lãi chỉ đợc trả khi doanh
nghiệp làm ăn có lãi. Khi lợi nhuận thấp hơn tiền vay thì trái chủ chỉ nhận đợc tiền
trả bằng thu nhập đó, số tiền thiếu đợc chuyển sang năm sau, tuỳ theo thoả thuận
qui định trong khế ớc vay. Đối với doanh nghiệp thì loại trái phiếu này có u điểm
là rất linh hoạt, phù hợp với doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính.
Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu phổ biến nhất, trên mặt trái
phiếu ghi rõ lãi suất và không thay đổi trong suốt kì hạn của nó.
Trái phiếu có lãi suất thả nổi: Loại trái phiếu này phù hợp cho việc huy
động vốn trong thời kỳ nền kinh tế không ổn định, lãi suất trên thị trờng biến động
liên tục. Lãi suất của loại trái phiếu này phụ thuộc vào lãi suất cơ bản, thông thờng
11
lấy lãi suất của trái phiếu kho bạc làm chuẩn và đợc điều chỉnh sau khoảng thời
gian nhất định theo qui định.
d.3. Trái phiếu có thể thu hồi sớm.
Phát hành trái phiếu có thể thu hồi sớm tức là trái phiếu mà công ty có thể
mua lại trớc khi đáo hạn, trong trờng hợp đó ngời mua sẽ không nhận đợc lãi đáo
hạn. Loại trái phiếu này đợc qui định rõ về thời gian, giá cả khi công ty mua lại
ngay từ khi phát hành.
d.4. Trái phiếu có thể chuyển đổi.
Trái phiếu có thể chuyển đổi là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi
thành một số lợng nhất định cổ phiếu thông thờng. Trái phiếu này có u điểm nổi
bật sau:
Trái phiếu có thể chuyển đổi có thể đem lại cho trái chủ cơ hội kiếm đợc lợi
nhuận cao. Khi giá cổ phiếu tăng trái chủ có thể đổi trái phiếu lấy cổ phiếu vừa đ-
ợc hởng lợi do tăng giá vừa đợc hởng lãi cổ phần. Do vậy trái chủ chấp nhận mức
lãi suất thấp của trái phiếu chuyển đối hơn là trái phiếu thông thờng. Điều này rất
có lợi cho những doanh nghiệp cho những doanh nghiệp gặp khó khăn về tài
chính.
Nếu giá trị cổ phiếu sẽ giảm trong thời gian gần đây và sẽ tăng trong thời
gian tới mà công ty muốn tăng vốn cổ phần, thì trái phiếu có thể chuyển đổi là
công cụ huy động vốn hữu hiệu, vì doanh nghiệp vừa phải trả chi phí thấp vừa
không tốn chi phí phát hành cổ phiếu thờng. Tuy nhiên nếu giá cổ phiếu không
tăng thì sự chuyển đổi không xảy ra và doanh nghiệp phải trả một mức lãi suất cao
hơn lãi suất thông thờng.
Các công ty ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển thờng phát hành
những chứng khoán kèm theo các điều kiện có thể chuyển đổi. Sự chuyển đổi đó
có thể đem lại cho công ty một phơng thức huy động vốn thích hợp. Công cụ để
tiến hành hình thức này là giấy đảm bảo, giấy đảm bảo thờng đợc phát hành kèm
với các cổ phiếu u đãi, trái phiếu theo phơng thức bán trọn gói để tăng tính hấp
dẫn đối với các nhà đầu t. Thực chất giấy đảm bảo là một tờ giấy mà ngời sở hữu
nó có thể mua một lọng cổ phiếu thờng với giá cả và thời gian đợc qui định tr-
ớc.Khi giá thị trờng của cổ phiếu cao hơn so với mức giá ghi trên giấy đảm bảo thì
12
ngời sở hữu giấy đảm bảo có quyền mua cổ phiếu của công ty tại mức giá thấp
hơn đó, ngợc lại nếu giá trên thị trờng của cổ phiếu cao thấp hơn giá ghi trên giấy
đảm bảo thì giấy đảm bảo không có ý nghĩa. Đây là một hình thức tăng tính hấp
dẫn để huy động vốn của công ty, nó giúp công ty huy động vốn dễ dàng hơn.
Khi tiến hành phát hành trái phiếu để huy động vốn, doanh nghiệp phải lựa
chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện của mìmh và tình hình thị tr-
ờng tài chính. Việc lựa chọn trái phiếu phù hợp là quan trọng vì có liên quan đến
chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu, từ
đó, nó sẽ ảnh hởng đến số lợng vốn có thể huy động đợc và lợi nhuận của doanh
nghiệp.
e. Tín dụng thuê mua.
Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tài
sản, máy móc thiết bị. Thuê mua là sự thoả thuận theo hợp đồng đợc kí kết giữa
hai hay nhiều bên có liên quan đến một hay nhiều tài sản, trong đó ngời cho thuê (
chủ sở hữu tài sản) chuyển giao tài sản cho ngời thuê ( ngời sử dụng tài sản) đợc
sử dụng trong một khoảngthời gian nhất định và ngời thuê phải trả cho ngời cho
thuê một khoản tiền thuê tơng xứng với quyền sử dụng.
Tín dụng thuê mua có hai phơng thức chủ yếu:
e.1. Thuê vận hành.
Thuê vận hành là một thoả thuận mà theo đó ngời cho thuê chuyển cho ngời
thuê quyền sử dụng tài sản trong một thời gian để lấy tiền thuê. Trong hình thức
thuê vận hành ngời ta không dự kiến là quyền sở hữu tài sản sẽ đợc chuyển giao
khi hết thời hạn thuê và thông thờng ngời thuê chỉ sử dụng tài sản một của thời kì
hữu ích của tài sản. Hết thời hạn thuê, bên thuê trả lại tài sản này cho ngời cho
thuê. Thuê vận hành có hai đặc trng chính:
Thời hạn thuê thờng rất ngắn so với toàn bộ thời gian hữu ích của tài sản,
điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần thông báo trớc một thời gian ngắn.
Ngời thuê chỉ trả tiền thuê theo thoả thuận, ngời cho thuê phải chịu mọi chi
phí vận hành của tài sản cùng với những rủi ro về hao mòn vô hình của tài sản.
13
Cho thuê vận hành thờng hạn chế trong các tài sản có thời gian sử dụng lâu
dài hoặc có một thị trờng thiết bị cũ năng động. Ngời cho thuê vận hành thờng
hiểu biết rất rõ về tài sản cho thuê.
e.2. Thuê tài chính.
Thuê tài chính là một phơng thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn theo hợp
đồng. Theo phơng thức này, ngời cho thuê thờng mua tài sản, thiết bị mà ngời thuê
cần và đã thơng lợng từ trớc các điều kiện mua lại tài sản từ ngời cho thuê. Trong
nhiều trờng hợp bên thuê có thể bán tài sản của mình cho ngời cho thuê rồi thuê
lại. Trong hợp đồng thuê tài chính thì thời gian thuê chiếm phần lớn thời gian hữu
ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp
các chi phi mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
Một hợp đồng thuê tài chính thông thờng đợc chia làm ba phần:
Phần 1: Thời hạn thuê chính thức: Đây là khoảng thời gian quan trọng nhất
của hợp đồng thuê, trong thời gian này các bên không đợc đơn phơng huỷ bỏ hợp
đồng trừ trờng hợp đặc biệt đợc cả hai bên chấp nhận. Hết thời hạn này hầu nh ng-
ời cho thuê đã thu hồi đủ số tiền đầu t ban dầu.
Phần 2: Thời gian thuê tự chọn: Là khoảng thời gian mà ngời thuê có thể tiếp
tục thuê tài sản với chi phí thuê rất thấp.
Phần 3: Thực hiện giá trị còn lại: Bên cho thuê sẽ bán thanh lý tài sản
Trong hợp đồng thuê tài chính, các chi phí cũng nh các rủi ro của tài sản do
bên thuê chịu tơng tự nh nh các tài sản mà công ty mua sắm.
f. Vốn liên doanh, liên kết hoặc sát nhập các doanh nghiệp nhỏ thành
một doanh nghiệp lớn:
Liên doanh là một hoạt động mà trong đó hai hay nhiều bên cùng góp vốn để
kinh doanh và thu lợi nhuận và chịu trách nhiệm, rủi ro trong phạm vi góp vốn.
Huy động vốn bằng hai hình thức này có u điểm giúp cho doanh nghiệp tranh
thủ đợc vốn, nhân công, kinh nghiệm của các đối tác để thực hiện sản xuất, kinh
doanh nhng có nhợc điểm là phải phân chia thành quả hoạt động, nhiều khi không
thống nhất đợc mục tiêu quan điểm, có thể dẫn đến tan vỡ liên doanh.
g. Tín dụng thơng mại :
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét