Kinh tế đầu tư 49C
+ Theo bản chất của đối tượng đầu tư: Đầu tư cho các đối tượng vật
chất (Đầu tư tài sản vật chất hoặc tài sản thực như nhà xưởng ,máy móc thiết
bị…) và đầu tư cho các đối tượng phi vật chất (đầu tư tài sản trí tuệ và
nguồn nhân lực như đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế…).Trong đó đầu tư
cho đối tượng vật chất là điều kiện tiên quyết ,cơ bản làm tăng tiềm lực của
nền kinh tế,đầu tư tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực là điều kiện tất yếu để
đảm bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiến hành thuận lợi
+ Theo phân cấp quản lý: Đầu tư phát triển được chia thành đầu tư theo các
dự án quan trọng quốc gia,dự án nhóm A,B,C .Dự án quan trọng quốc gia do
Quốc hội quyết định,nhóm A do Thủ tướng chính phủ quyết định,nhóm B và
C do Bộ trưởng ,Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,cơ quan trực thuộc chính
phủ,UBND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
+ Theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư: Đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng.Các hoạt động đầu tư này có quan hệ tương hỗ với nhau
+ Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: Đầu tư cơ bản và đầu
tư vận hành.Đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định.Đầu tư vận
hành nhằm tạo ra cá tài sản lưu động cho các cơ sở sản xuất ,kinh đoanh
dịch vụ mới hình thành,tăng thêm tài sản lưu động cho các cơ sở hiện có,duy
trì hoạt động của cơ sở vật chất không thuộc doanh nghiệp.Đầu tư cơ bản
quyết định đầu tư vận hành,đầu tư vận hành tạo điều kiện cho các kết quả
đầu tư cơ bản phát huy hiệu quả.Đầu tư cơ bản là loại đầu tư dài hạn,quá
trình đầu tư nhằm tái sản xuất mở rộng vì vậy mà phức tạp và đòi hỏi vốn
đầu tư lớn,thu hồi vốn lâu.
+ Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái sản
xuất xã hội: Đầu tư thương mại và đầu tư sản xuất. Đầu tư thương mại là
5
Kinh tế đầu tư 49C
hoạt động đầu tư mà thời gian thực hiện ngắn,vốn vận động nhanh còn đầu
tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn,vốn đầu tư lớn,thu hồi lâu
+ Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư:
Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn.
+ Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp.
+ Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia: Đầu tư bằng nguồn vốn trong
nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài .
+ Theo vùng lãnh thổ: Đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ, các vùng
kinh tế trọng điểm, đầu tư phát triển khu vực thành thị và nông thôn…
1.3 Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau :
+ Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu
tư thường rất lớn.
Vốn đầu tư nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự
án trọng điểm quốc gia. Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi
ngộ cần tuân thủ một kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu
từng loại nhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời, hạn chế đến mức thấp nhất
những ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lao
động, giải quyết lao động dôi dư…
+ Thời kỳ đầu tư kéo dài. Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực
hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình
đầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm.
6
Kinh tế đầu tư 49C
+ Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian này
tính từ khi dưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn hoạt động
và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát huy kết quả lâu dài, có
thể tồn tại vĩnh viễn như các Kim tự tháp Ai Cập, Nhà thờ La Mã ở Rôm,
Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, ĂngCoVát ở Cam-pu-chia… Trong
suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả
tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…
+ Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công
trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo
dựng nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các
kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã
hội vùng.
+ Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao. Do quy mô vốn đầu tư lớn,
thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo
dài… nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao. Rủi ro
đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó, có nguyên nhân chủ quan từ phía các
nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu… có
nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm,
công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế…
1.4 Yêu cầu quán triệt đặc điểm đầu tư phát triển trong quản lí đầu tư
tại một quốc gia
1.4.1 Đối với đặc điểm thứ nhất.”quy mô tiền vốn và vạt tư và lao
động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn”
Vốn cho đầu tư phát triển phải lớn,vì vậy ta phải huy động vốn qua
các kênh khác nhau, và dùng các biện pháp thích hợp:
7
Kinh tế đầu tư 49C
Chúng ta cần phải huy động, thu hút tối đa mọi nguồn lực tài chính
với phương châm "vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan
trọng". Gắn công tác huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu, cổ
phiếu của DN các thành phần kinh tế, nhất là các DNNN cổ phần hóa với
việc phát triển thị trường chứng khoán, đồng thời phải chú trọng tính hiệu
quả an toàn và tác động tích cực của thị trường đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô.
Đối với vốn trong nước ta tạo điều kiện huy động vốn hợp lý bằng cơ
chế lãi suất và những chính sách khuyến khích cổ phần hóa làm tăng nguồn
vốn cho đầu tư phát triển, thực hiện đầu tư có trọng điểm,quản lý vốn đầu tư
nhằm nâng cao hiệu quả của nguổn vốn sử dụng.
Đối với những nguồn vốn nước ngoài ta nên thực hiện chủ trương mở
cửa,giảm các thủ tục rườm rà,tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu
tư. điều chỉnh quy hoạch ngành, nhằm dỡ bỏ các hạn chế đối với nhà đầu tư
nước ngoài, phù hợp với các cam kết quốc tế song phương và đa phương;
ban hành các quy hoạch ngành còn thiếu như quy hoạch mạng lưới các
trường đại học, dạy nghề cùng các điều kiện, tiêu chuẩn cấp phép cho các dự
án thuộc lĩnh vực này; đồng thời tăng cường đầu tư nâng cấp các công trình
cơ sở hạ tầng, rà soát các dự án đã được cấp phép
Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án ,vừa để tránh ứ đọng
vốn nên các nguồn tài trợ không chỉ xem xét về mặt số lượng mà về cả thời
điểm nhận được tài trợ. Các nguồn vốn dự kiến này phải đảm bảo chắc chắn.
Sự đảm bảo này thể hiện ở tính pháp lí và cơ sở thực tế của các nguồn vốn
huy động.
8
Kinh tế đầu tư 49C
Những nguồn vốn sau khi dc huy động ta phải quản lý chặt chẽ,tránh thất
thoát nguồn vốn cũng như sử dụng nguồn vốn không hiệu quả
Lao động sử dụng cho đầu tư phát triển là rất lớn
Đầu tư phát triển cần rất số lượng lớn về lao đông,đặc biệt là công
nhân kĩ thuật ,những lao động có kiến thức về kĩ năng quản lí ,những sinh
viên tốt nghiệp đại học,cao đẳng. Hiện nay nhu cầu về những lao động này
của tất cả các nước trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng là rất lớn
nhưng khả năng đáp ứng là chưa đủ,lượng lao động trong nước chủ yếu là
nông dân và lao động trình độ thấp. Hiện tượng “thiếu về lượng,yếu về chất”
đang là thực tế ở nước ta.Vấn đề trước mắt là đào tạo nguồn nhân lực,giải
quyết tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”.Đối với trường ĐH, cần củng cố chất
lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên; trường có chương trình đào tạo chất
lượng cao theo nhu cầu doanh nghiệp đã được ký kết có thể đề xuất ngay
mức học phí mới. Đối với doanh nghiệp, cần có thông tin về nhu cầu nhân
lực của mình, hỗ trợ tài chính và tham gia vào quá trình đào tạo, xây dựng
chương trình, cho sinh viên thực tập.Bên cạnh đó cần phải chú trọng hơn
trong việc sử dụng nguồn nhân lực,nhiều sinh viên ra trường không có việc
làm ngay,những công nhân sau dự án thường nhàn rỗi.Việc đãi ngộ công
nhân viên chức cũng như đội ngũ giáo viên cũng là một việc hết sức quan
trọng để cho việc đào tạo diễn ra một cách hiệu quả
1.4.2 Đối với đặc điểm thứ hai “ thời kì đầu tư kéo dài” .
Trong giai đoạn thực hiện đầu tư vấn đề thời gian là quan trọng
hơn cả, 90 – 98% tổng vốn đầu tư được chia ra và huy động trong suốt
những năm thực hiện đầu tư. Đây là những năm vốn không sinh lời,
9
Kinh tế đầu tư 49C
thời gian thực hiện đầu tư cũng kéo dài, vốn khê động càng nhiều tổn
thất càng lớn, hơn nữa, nó còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp. Thời gian thực hiện đầu tư phụ thuộc nhiều vào
công tác chuẩn bị đầu tư và quản lý quá trình thực hiện những hoạt
động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực
hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư.
Quá trình thực hiện đầu tư gồm: hoàn tất thủ tục để triển khai thực
hiện đầu tư, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, thi
công xây lắp công trình, chạy thử và nghiệm thu sử dụng.
Như vậy yêu cầu quán triệt đặc điểm này của đầu tư phát triển là
+Cần quản lý sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư. Do ở giai đoạn
này vốn nằm khê đọng trong thời gian dài nên để nâng cao hiệu quả
vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực
tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt
chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nhất là
trong xâu dựng cơ bản.
+ Mặt khác, cần rút ngắn thời gian đầu tư, đảm bảo đúng tiến độ
thi công công trình. Thời gian hoàn thành dự án càng ngắn thì chi phí
và rủi ro càng ít. Hoạt động đầu tư luôn luôn gắn liền với yếu tố rủi
ro, điều quan trọng là nhận biết và khắc phục được chúng trong quá
10
Kinh tế đầu tư 49C
trình thực hiện đầu tư. Kéo dài thời gian thực hiện là kéo thêm một
khoản chi phí ( chi phí vốn, chi phí nguyên vật liệu, chi phí trả lương
công nhân, chi phí tăng do lạm phát ), tăng thêm những rủi ro, bất
trắc, mất đi cơ hội cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả đầu tư vì thế
cũng giảm sút.Bên cạnh đó cần quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguyên
vật liệu, tránh lãng phí, nâng cao hiệu suất sử dụng. Mặt khác cũng
cần có sự đầu tư về mặt công nghệ, lắp đặt các dây chuyền thiết bị
hiện đại, phù hợp với trình độ quản lý và sử dụng giúp cho chủ đầu tư
nâng cao được chất lưọng sản phẩm, mặt khác lại tiết kiệm được đáng
kể chi phí về vận hành, về nhân công, nguyên vật liệu và năng lượng,
góp phần nâng cao hiệu quả trong thực hiện đầu tư.
1.4.3 Đối với đặc điểm thứ ba “Thời gian vận hành các kết quả đầu
tư kéo dài”.
Đây là giai đoạn quyết định tới việc dự án có thực hiện được các mục
tiêu đề ra hay không,là quá trình thu hồi vốn,hiệu quả việc khai thác các
nguồn lực được biểu hiện rõ nhất.Giai đoạn này kéo dài thường là vài
năm,thậm chí vài chục năm hoặc lâu hơn do dó chịu tác động của rất nhiều
yếu tố chủ quan lẫn khách quan.Vì vậy yêu cầu đặt ra đó là
Thứ nhất, xác định cơ chế và phương pháp dự báo khoa học ở cấp độ
vĩ mô và vi mô về nhu cầu thị trường của sản phẩm dự án trong tương
lai,khả năng cung của dự án trong từng năm,và cả đời dự án.Đối với mọi dự
án thì điểm mấu chốt đó là sản phẩm của dự án phải được chấp nhận trên thị
11
Kinh tế đầu tư 49C
trường,sản phẩm có tiêu thụ được thì dự án mới có thể thu hồi vốn và sinh
lời.vì vậy công tác dự báo là vô cùng quan trọng,công việc này phải được
thực hiện nghiêm túc và tỉ mỉ ngay từ khi lập báo cáo nghiên cứu khả thi,
đồng thời cũng phải được thực hiện thường xuyên trong quá trình vận hành
dự án vì nhu cầu của thị trường thường xuyên có sự thay đổi.Sau khi tiến
hành dự báo cầu về sản phẩm,phải tiến hành dự báo tới khả năng cung ứng
của dự án từ đó mới có các quyết định thu hẹp hay mở rộng sản xuất cho
phù hợp.Việc phân tích ,đánh giá tiềm năng và quy mô của dự án cần dựa
trên cơ sở phân tích các tác động của môi trường vĩ mô như pháp luật,chính
sách,kinh tế,văn hóa xã hội… ảnh hưởng tới triển vọng ra đời của dự án và
quá trình vận hành kết quả đầu tư.Do đó dự báo nhu cầu thị trường về sản
phẩm của dự án và khả năng cung ứng của dự án cần dựa trên các dự báo vĩ
mô về nền kinh tế như tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ lạm phát,lãi suất…
Thứ hai, phải quản lí tốt quá trình vận hành,nhanh chóng đưa thành
quả đầu tư vào sử dụng hoạt động tối đa công suất của dự án.Quá trình vận
hành thực chất là quá trình sản xuất kinh doanh cho nên vai trò của công tác
quản trị là hết sức quan trọng.Có một cơ chế quản lí tốt có nghĩa là đã có
một cách thức huy động và sử dụng các nguồn lực ( vốn,nguồn nhân lực,tài
nguyên thiên nhiên…) một cách có hiệu quả.Mà việc quản lí tốt hay không
lại phụ thuộc và cách thức tổ chức của bộ máy quản trị. Việc bố trí bộ máy
quản trị phải đảm bảo các nguyên tắc :
+ thực hiện được các mục tiêu ,chương trình kế hoạch đã vạch ra
+ phải thống nhất lãnh đạo ,chỉ đạo quản lí
+ tổ chức bộ máy phải tinh gọn nhưng hiệu quả
+ quan hệ giữa các bộ phận lãnh đạo,điều hành ,quản lí phải rõ ràng
+ quyền hạn đi đôi với trách nhiệm
+ hợp tác nhằm thực hiện mục tiêu chung.
12
Kinh tế đầu tư 49C
Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ thì xảy ra
hiên tượng hao mòn vô hình.đó là hiên tượng suy giảm thuần túy về giá trị
của các tài sản cố định.Sự hao mòn vô hình ngày càng diễn ra mạnh mẽ,các
máy móc thiết bị có thể bị lỗi thời nhanh chóng.Khoa học công nghệ cũng
tác động làm rút ngắn vòng đời của sản phẩm.Vì vậy mà sau khi hoàn thành
giai đoạn thực hiện đầu tư phải nhanh chóng đưa thành quả đầu tư vào sử
dụng,phát huy tối đa công suất nhằm tránh hao mòn vô hình.Một nguyên
nhân khác dẫn đến yêu cầu này đó là do nguồn vốn của dự án thường là vốn
đi vay.nguồn vốn bị khê đọng không sinh lời trong suốt quá trình thực hiện
đầu tư nhưng vẫn phải chịu chi phí lãi suất,do đó đưa thành quả đầu tư vào
sử dụng càng sớm thì càng nhanh chóng thu hồi vốn,tiết kiệm được chi phí
vốn.
Để nhanh chóng đưa vào sử dụng và phát huy tối đa công suất thì yêu
cầu đặt ra là chủ đầu tư phải chuẩn bị một lượng vốn nhất định phục vụ chu
kì đầu của sản xuất,tránh tình trạng sau khi xây xong dự án lại phải nằm chờ
vì không có tiền cho sản xuất.Mặt khác phải đảm bảo nguồn cung nguyên
liệu lâu dài và ổn định cho dự án
Thứ ba,chú ý đúng mức tới độ trễ thời gian trong đầu tư.Đầu tư năm
nay nhưng thành quả đầu tư chưa chắc phát huy tác dụng ngay trong năm
đó.Đây là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư ,ảnh hưởng lớn tới công tác
quản lí hoạt động đầu tư.
1.4.4 Đối với đặc điểm thứ tư “Các thành quả của hoạt động đầu tư
phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay
tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng như
thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố
về tự nhiên, kinh tế xã hội vùng.
Trước hết cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng
13
Kinh tế đầu tư 49C
Để đưa ra được chủ trương, quyết định đầu tư thì cần phải xác định rõ ràng
quy mô, tính chất, đặc điểm của dự án mà mình chuẩn bị đầu tư vào. Điều
đó dẫn đến việc cần trả lời câu hỏi: đầu tư cái gì? – để xác định sản phẩm
sản xuất ra là sản phẩm nào, mục đích tìm kiếm lợi nhuận của nhà đầu tư
trên lĩnh vực nào; công suất dự kiến là bao nhiêu? – để xác định quy mô nhà
máy, xí nghiệp; công nghệ được sử dụng là công nghệ nào? Như vậy công
tác nghiên cứu cơ hội đầu tư là lập dự án đầu tư là vô cùng quan trọng,có ý
nghĩa quyết định tới thành công của dự án.Đối với cấp quản lí vĩ mô thì công
tác quan trọng đó là quy hoạch hợp lí
Từ việc xác định rõ được các yêu cầu này thì đưa ra được sự lựa chọn
một địa điểm đầu tư cho phù hợp.Việc lựa chọn địa điểm đầu tư phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố, có ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất sau này, khi
mà dự án đi vào vận hành. Để lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý cần chú ý các
điểm sau:
+ Các công trình được xây dựng lên không thể dễ dàng di chuyển từ
nơi này sang nơi khác, nên cần phải có hướng tiếp cận lâu dài, không phải
chỉ tính đến việc xây dựng là cho hoạt động trong năm, mười năm mà phải
tính đến những phương án mở rộng hay thu hẹp trong tương lai xa, trong sự
quy hoạch chung của vùng, miền nói riêng và của toàn bộ đất nước nói
chung.
+ Địa điểm nên có điều kiện thuận lợi trong hợp tác với các cơ sở sản
xuất trong vùng, đồng thời đảm bảo ưu thế cạnh tranh so với các địa điểm
của các doanh nghiệp cùng loại
+ Tính đến các yếu tố tác động đến các công trình như:môi trường tự
nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa,… để từ đó khai thác được tối đa lợi
thế vùng và có những biện pháp phòng ngừa những tác động xấu một cách
kịp thời, tạo điều kiện cho các công trình phát huy được hiệu quả sử dụng tối
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét