nước cần đưa ra các chính sách, giả pháp quy định cụ thể vấn đề đền bù
thiệt hại cho người dân.
GPMB trở thành một trong những điều kiện tiên quyết của phát triển,
nếu không được xử lý tốt thì sẽ thành một lực cản thực tế đầu tiên mà các
nhà phát triển phải vượt qua. Bài học từ các nước phát triển dạy rằng nếu
xem nhẹ vấn đề này trong tính toán đầu tư phát triển thì không chỉ làm tăng
giá thành mà cồn để lại nhiều hậu quả nặng nề không thể xử lý được bằng
tiền. Có thể khẳng định rằng đền bù và giải phóng mặt bằng là vấn đề của
phát triển, là nội dung không thể né tránh của phát triển, và chính nó là một
yếu tố quyết định của tiến bộ xã hội và sự thành công của phát triển, bất kỳ
một giải pháp nào mà thiếu đồng bộ, không chặt chẽ đều để lại hậu quả tiêu
cực.
2. Công tác đền bù Giải phóng mặt bằng
2.1. Thực chất của đền bù giải phóng mặt bằng.
Luật đất đai năm 2003 quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Vì vậy nhà nước nắm trong tay quyền
chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng đất đối với toàn bộ đất đai
trên phạm vi lãnh thổ đất nước. Nắm trong tay quyền định đoạt, nhà nước
có quyền quyết định số phận pháp lý của đất đai đồng thời có quyền lợi
dụng tính năng của đất để phục vụ cho lợi ích kinh tế và đời sống của con
người. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua
hình thức giao đất( có thu tiền hoặc không thu tiền SDĐ ), cho thuê đất,
công nhận quyền sdđ đối với người đang sử dụng đất ổn định. Người sdđ có
quyền lợi dụng tính năng của đất phục vụ lợi ích cho mình, đồng thời phải
sử dụng đất theo đúng mục đích và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước,
trong đó người sử dụng đất có nghĩa vụ “ Giao lại đất trong khi nhà nứoc có
quyết địnhthu hồi hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất”.
5
Khi nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế
xã hội, mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
thì vô tình nhà nước đã vi phạm vào quyền sử dụng đất của người sử dụng,
làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người sdđ nên phải đền bù cho họ
khi tiến hành thu hồi đất.
Đền bù GPMB được hiểu là việc chi trả lại đầy đủ tương xứng những
thiệt hại về đất đai, nhà ở, vật kiến trúc, công trình hạ tầng kỹ thuật, cây cối,
hoa màu và các chi phí khác để ổn định đời sống, sản xuất, chuyển đổi nghề
nghiệp cho người bị thu hồi đất đai, tài sản trên đất khi nhà nước thu hồi đất
để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng.
Chính sách đền bù giải phóng mặt bằng bao gồm những quy định về
việc đền bù thiệt hại về đất, về tài sản gắn liền với đất thu hồi, các biện
pháp hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống cho người có đất bị thu hồi.
Trong điều kiện hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ phát triển nền kinh tế
hàng hoá đổi mới về mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội. Bên cạnh đó, mục
tiêu củng cố quốc phòng, an ninh để bảo vệ đất nước trước những âm mưu
mới của kẻ thù cũng đặt ra những yêu cầu mới. Nhu cầu đất đai để xây
dựng các công trình về y tế, văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, các công
trình du lịch, dịch vụ, thương mại, phát triển đô thị…công trình an ninh
quốc phòng là rất lớn. Nếu nhà nước không có những chính sách và những
quy định phù hợp thì dễ dẫn đến tình trạng là sau mỗi lần nhà nước thu hồi
đất để sử dụng vào múc đích quuốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi
ích quốc gia, sẽ có nhiều hộ gia đình, cá nhân lâm vào tình trạng không có
chỗ ở, không có việc làm, công việc sản xuất kinh doanh bị ngừng trệ, đời
sống của họ sẽ lâm vào khó khăn.Thực tế cho thấy, công tác GPMB khi nhà
nước thu hồi đất là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, tác động tới mọi
6
mặt của đời sống kinh tế –xã hội nhân văn của nhiều người, của cả cộng
đồng dân cư. Giải quyết không tốt, không thoả đáng quyền lợi của ngừơi có
đất bị thu hồi và người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất để dẫn đến bùng phát
khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể đông người, làm cho tình
hình trở nên phức tạp, từ đó gây nên sự mất ổn định về kinh tế chính trị xã
hội nói chung.Từ đó, quá trình thực hiện đền bù GPMB để thực hiện các dự
án xây dựng luôn phải giải quyết, dung hoà mâu thuẫn về lợi ích của hai
nhóm đối tượng là người được giao đất và người bị thu hồi đất. Người được
giao đất ( Trong đó có cả các cơ quan nhà nước) luôn tìm cách giảm chi phí
bồi thường GPMB nhằm hạ giá thành xây dựng, tiết kiệm chi phí sản xuất.
Trong khi đó người bị thu hồi đất luôn đòi hỏi phải được trả một khoản bồi
thường “ càng nhiều càng tốt” mà trước hết phải là thoả đáng; mặt khác
trong nội bộ những người được đền bù có người chấp hành tốt chíng sách
đất đai của nhà nước, có người chấp hành chưa tốt, do đó đòi hỏi xử lý sao
công bằn cũng là một viếc hết sức khó khăn.
Nghiên cứu tìm hiểu tận gốc rễ của vấn đề đền bù thiệt hại, GPMB
đề ra một chính sách hợp lý, đủ chi tiết và dự kiến trước mọi tình huống để
giả quyết hài hoà, thoả đáng quyền lợi của người được giao đất và người bị
thu hồi đất là rất cần thiết, góp phần tạo động lực phát triển.
Kể từ thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế ở miền Bắc cho đến
trước khi có luật đất đai năm 1993, để phục vụ cho việc lấy đất xây dựng
các công trình của nhà nước, các chính sách về đền bù thiệt hại đã được ban
hành, cụ thể là: Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của hội đồng chính
phủ quy định tạm thời về trưng dụng đất; Thông tư số 1792/Ttg ngày
11/01/1970 của phủ thủ tướng quy định một số điểm tạm thời về bồi thường
nhà cửa, đất đai, cây cối, các hoa màu cho nhâ dân ở những vùng xây dựng
kinh tế mở rộng thành phố. Do ở thời kỳ này đất đai chưa được thừa nhận là
7
có giá cho nên các chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều
hạn chế, thể hiện trong cách tính giá trị bồi thường, phương án thực hiện.
Đến khi nhà nước xác lập quyền sở hữu duy nhất và tuyệt đối về đất đai tại
hiến pháp 1980, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết địnhvề đền bù
thiệt hại đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất có rừng sang sử dụng vào mục
đích khác hơn là chính sáhc GPMB hiện nay.
Hiến pháp năm 1992 ra đời đã đặt nền móng cho việc xây dựng chính
sách bồi thường, GPMB qua những điều khoản quy định cụ thể sau:
Điều 17: “ Đất đai… thuộc sở hữu toàn dân”.
Điều 18: “ nhà nước giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn
địnhlâu dài… Tổ chức, cá nhân…được chuyển quyền sử dụng đất được nhà
nước giao theo quyết định của pháp luật”.
Điều 23: “… trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh
và lợi ích quốc gia, nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài
sản cho cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường.”
Điều 58: “ Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải
để dành nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp hoặc
trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được NN giao sử dụngthì theo
quyết định tại Đ17 và Đ18”
Đồng thời luật đất đai năm 1993 đã quy định nhànước thực hiện giao
đất sử dụng ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân và tổ chức, NN
còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất. Trong trường hợp thật cần
thiết, nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng
vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì
người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại.
Luật đất đai năm 2003 quy định cụ thể hơn về việc bồi thường, tái
định cư cho người có đất bị thu hồi và việc hỗ trợ để thực hiện thu hồi đất.
8
Luật quy định cụ thể các trường hợp bồi thườngvà tái định cư đảm bảo chỗ
ở ổn định cho người dân sau khi bị thu hồi đất.
Hiến pháp năm 1992, luật đất đai 1993đã đặt cơ sở pháp lý cho việc
đền bù thiệt hại GPMB và cụ thể tại nghị định 90/cp ngày 17/08/1994 của
chính phủ quy định về việc đền bù .thiệt hại về đấ khi nhà nước thu hồi đất
để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng. Quy định khi nhà nước thu hồi đất, người bị thu hồi đất được đền bù
thiệt hại bằng đất hoặc được đền bù thiệt hại bằng tiền. Tuy nhiên sau 3
năm triển khai, khả năng thực hiện của nghị định này là rất hạn chế do: sau
khi ban hành luật đất đai, về cơ bản đất đai đã có chúử dụng, đền bù thiệt
hại bầng đất không thể thực thi; đền bù bằng tiền thì căn cứ vào giá đất do
UBND cấp tỉnh ban hành theo khung giá của chính phủ, nhưng giá đất do
nhà nước ban hành quá thấp so với giá chuyển quyền sử dụng đất đai tại
hầu hết các địa phương.
Nhân thấy những bất cập trên, chính phủ đã ra NĐ số 22/1998/NĐ-
CP ngày 24/4/1998 thay thế nghị định số 90/1994/NĐ-CP; về cơ bản có kế
thừa một số quy định của nghị định số 90 và có một số quy định như tiền
đền bù thiệt hại về đất vẫn theo quy định của chính phủ, nhưng được nhân
với hệ số k, để đảm bảo giá đất tính đền bù phù hợp với khả năng sinh lời
và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương; Quy định rõ hơn
về vấn đề tái định cư; chính sách hỗ trợ có lợi nhiều hơn cho người bị thu
hồi đất. Tuy vậy, sau một thời gian thực hiện, nghị định 22/CP cũng đã có
những hạn chế sau: Mặc dù giá dất tính đền bù được nhân theo hệ số K
nhưng vẫn còn quá thấp so với thời giá thị trường, chưa có sự thống nhất về
cách xác định giáất giữa các địa phương, chưa làm rõ trách nhiệm của
UBND các cấp, các nghành, chủ dự án trong công tác GPMB, chưa quy
định việc bồi thường, hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng… Vì vậy luật đất đai
9
năm 2003 ra đời, chính sách về đèn bù thiệt hại GPMB & tái định cư đã
được quy đinh rõ trong nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004. Nghị
định 197 ra đời thay thế cho nghị định 22?CP quy định về bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc
phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh
tế.
2.2.Phạm vi áp dụng và đối tượng được đền bù trong chính sách:
Phạmvi áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi
đất được quy định tại NĐ197/2004/NĐ-CP : Được bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi nhaf nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng , an
ninh, lợi ích quốc phòng, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế.
Khái niệm này bao gồm cả đất sử dụng cho các dự án sản xuất kinh doanh,
khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu vui chơi giải trí,
khu du lịch, khu đô thị mới, khu dân cư tập trung và các dự án đầu tưhoặc
phát triểnkhác đã được cơ quan nhà nứoccó thẩm quyền quyết định và đất
sử dụng xây dựng các công trình phục vụ công ích và công cộng khác
khong nhằm mục đích kinh doanh của địa phương do UBND tỉnh, thành
phố trrực thuộc Trung ương quyết định.
Nhà nước thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và GPMB:
- Tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất thì tiền
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiênj bồi thường, hỗ
trợ, tái đinh cư được tính vào vốn đầu tư cua dự án.
- Tổ chức, cá nhân được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất,
cho thuê đất có trách nhiệm chi trả trước tiền bồi thường, hỗ trợ ,tái định cư
và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy
định của NĐ197/CP và được trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải
nộp.
10
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người VN định cư ở nước ngoài đầu
tư vào VN thì không phải trả tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư, nếu đẫ chi
trả thì được trừ số tiền đã trả vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải
nộp.
Phạm vi bồi thường hỗ trợ cho người sử dụng đất khi nhà nước thu
hồi đất là: Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất nhà nước
thu hồi; bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền vói đất và các chi
phí đầu tư vào đất bị nhà nước thu hồi; Hỗ trợ di chuyển; hỗ trợ ổn định đời
sống; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghềvà hỗ trợ khác cho người bị thu hồi
đất; hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu tái định cư. Khi người sử
dung đất bị nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái
định cư bằng một trong các hình thức sau: Bồi thường bằng nha ở; bồi
thừong bằng giao đất ở mới; bồi thường bằng tiền tiền để tự lo chỗ ở mới
Đối tượng được bồi thường bằng đất được quy định cụ thể tại NĐ
197/2004/NĐ-CP người bị nhà nước thu hồi đất, nêuc ó một trong những
điều kiện ssau thì được bồi thừong. Chứng tỏ có: Có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định được xác nhận là không có
tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ theo quy định của nhà nước…
Về hạn mức bồi thường đất ở: Diện tích đất ở bồi thường cho mỗi hộ
gia đình theo hạn mức đátt ở do UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung
ương quyết định, nhưng không vượt qua diện tích đất bị thu hồi. Trong
trường hơp đất ở bị thu hồi đất ở có thể được đền bù thêm một phần diện
tích đất ở tuỳ theo quyết định của địa phương, phần còn lại thì được đền bù
bằng tiền. NĐ 197/2004/NĐ-CP cũng quy đinh nguyên tắc bồi thường tài
sản gồm bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất; bồi thường cho
người thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, bồi thường về di chuyển mồ mả;
11
bồi thươngđối vơiứ công trình văn hoá, di tích lịch sử., nhà thờ, đình chùa,
am , miếu; bồi thườngđối ới cây trồng vật nuôi; bồi thường cho người lao
động do ngừng việc.
Tài sản trên đất hợp pháp và có khái niệm hợp pháp hoá được bồi
thường 100% giá trị tài sản; tài sản trên đất bất hợp pháp sẽ được hỗ trợ
80%mức bồi thường hoặc không được hỗ trợ bồi thường tuỳ theo mức độ
bất hợp pháp của tài sản. Về mức tiền bồi thườngnhà và các công trình xây
dựng trên đất bằng giá trị hiẹn tại cộng với một khoản tiền bằng tỷ lệ tối đa
không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn
kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại. Ngoài bồi thường về
đất và bồi thường về tài sản, NĐ 197/2004/NĐ-CP cũng quy định các chính
sách hỗ trợ như: hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định cuộc sốngvà ổn đinh ssản
xuất; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm; hỗ trợ người đang
thuê nhà không thuộc sở hữu nhà nước; hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của
dxã, phường, thị trấn và hỗ trợ khác để đảm bảo ổn định đời sống và sản
xuất cho người bị thu hồi đất.
II. Sự cần thiết phải xây dựng nhà ở tái định cư trong Giải phóng mặt
bằng.
1. Khái niệm tái định cư :
Việc thực hiện các dự án phát triển kết cấu hạ tầng, các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới đòi hỏi phải thu hồi đất đai đã làm cho
người dân tại vùng quy hoạch dự ánphát triển buộc phải di chuyểnchỗ ở.
Điều này đã làm ảnh hưởng sâu sắc, làm đảo lộn cuộc sống của người dân.
Vì vậy nhà nướcphải giải quyết các vấn đề bồi thường thiệt hại, di chuyển
và tái địh cư cho những người bị ảnh hưởng.
Tái định cư được hiểu là quá trình từ bồi thường cho các tài sản bị
thiệt hại, di dân đến nơi ở mới cùng các biện pháp hỗ trợ việc tái tạo lạicác
12
tài sản bị mất hoặc hỗ trợ di chuyển trong trường hợp hộ phải di chuyểnvà
cuối cùng là toàn bộ các chương trình biện phápnhằm giúp những người bị
ảnh hưởng khôi phục lại cuộc sống và nguồn thu nhập của họ và ổn định
đời sống người dân.
Tái định cư, như vậy, gồm hai quá trình riêng biệt nhưng có quan hệ
chặt chẽ với nhau: Di dân và xây dựng lại cuọoc sống của người dân bị di
dời. Tính phức tạp của tái định cư và sự phong phú, đa dạng của dự án
khiến cho mục tiêu thực hiện tốt công tác này như một nhiệm vụ đầy khó
khăn và ngày càng trở thành nhân tố trọng yếu trong thực hiện các dự án
phát triển.
2. Công tác tái định cư:
2.1.Vai trò của công tác tái định cư:
Trong những năm gần đây, việc triển khai các dự án xây dựng lớn ở
nước ta diễn ra ngày càng mạnh mẽ và gặp không ít những khó khăn, trong
đó khó khăn lớn nhất là việc đền bù giả phóng mặt bằng, nhất là ở những
nơi phải di dời nhiều dân cư. Tiến độ thi công kéo dài gây lãng phí lớn,
không ít đơn từ kiện cáo kéo dài ….gây khó khăn cho ban quản lý dự án và
gây bất an cho người dân. Trong đó công tác tái định cư cho người có đất bị
thu hồi là vấn đề mà người dân quan tâm nhiều nhất. Vì không ít người khi
bị di chuyển chỗ ở đã ảnh hưởng đáng kể tới đời sống và thu nhập của họ,
làm cho cuộc sống người dân càng khó khăn thêm. Nguyên nhân chủ yếu
là: Đối với đặc thù là một nước nông nghiệp vì vậy diện tích đất thu hồi
phục vụ cho mục đích xây dựng chủ yếu lấy từ đất nông nghiệp vì vậy diện
tích đất thu hồi phục vụ cho mục đích xây dựng chủ yếu lấy từ đất nông
nghiệp, đất làm nhà ở tại khu vực nông thôn và ven đô thị, và một phần đất
đô thị nằm trong quy hoạch. Nếu nhà nước không có chính sách và uy định
phù hợp thì dễ dẫn đến tình trạng là sau mỗi lần nhà nước thu hồi đất để sử
13
dụng vào mục đích quốc phồng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng,
mục đích kinh tế, sẽ có thêm nhièu hộ gia đình, cá nhân lâm vào tình trạng
không còn ruộng đất-tư liệu sản xuất chính-để nuôi sống gia đình và bản
thân gia đình họ. Trong khi đó nghành nghề trong nông thôn chưa phát
triển, trình độ, khả năng của người nông dân kông thể đáp ứng được với
yêu cầu cao của nền sản xuất tiên tién trong đô thị, công nghiệp, du lịch,
tình trạngmột số hộ dân không có nhà ở trong một thời gian dài, sự chênh
lệch giá cả giữa nơi ở cũ và nơi ở mới; cơ sở hạ tầng kém hơn, sự phân tán
về mặt xã hội… vì vậy nhà nước không thể để tình trạng thực hiện dự án
mang lại lợi ích ccho một số người thì lại buộc một số cá nhân khác lâm
vào tình trạng khó khăn, nghèo túng.Trong khi mục tiêu phát triển kinh tế
và xây dựng đất nước của Đảng và nhà nước ta là dân giầu nước mạnh, xã
hội công bằng văn minh. Trong chiến lược phát triển đất nướccó chiến lược
phát triển nhà ở, nhằm tạo điều kiện cho nhân dân có chỗ ở rộng rãi hơn,
tiện nghi hơn qua mỗi thời kỳ phát triển của dất nước. Để thực hiện được
điều này nhà nước cần phải có các chính sách và biện pháp thoả đáng giúp
cho người bị ảnh hưởng bởi dự án lập lại cuộc sống của mình như khi
không có dự án, ổn định đời sóng và thu nhập.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
chúng ta không chỉ có những đô thị đẹp, hiện đại, những khu sản xuất
khổng lồ, những công trìng công cộng khang trang mà còn kèm theo đó là
chỗ ở của người dân cần phải được nâng cấp, tiện nghi hơn, rộng rãi hơn…
chính vì vậy phải tính toán một cách toàn diện, không thể có hiện tượng
một công trình mới ra đời là kéo theo những người dân không có chỗ ở
hoặc chỗ ở kém hơn chỗ ở cũ. Nếu không nhìn nhận rõ bản chất của công
tcs tái định cư, mỗi năm chúng ta có hàng ngàn dự án đầu tư xây dựng, mỗi
dự án kéo theomột gia đình không có chỗ ở thì đã hàng ngàn gia đình thiếu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét