- Công ty liên doanh: Là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp
tác (một bên là Việt nam và một hoặc nhiều bên là nớc ngoài) thành lập
tại Việt nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết giữa
chính phủ nớc CHXHCN Việt nam và chính phủ nớc ngoài, hoặc là
doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu t nớc ngoài trên cơ sở hợp
đồng liên doanh.
1.2. Những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp.
Thực tế phát triển kinh tế ở các nớc trên thế giới và Việt Nam đã cho
chúng ta thấy rằng : Muốn phát triển một doanh nghiệp đều phải giải quyết
đợc ba vấn đề kinh tế cơ bản : Quyết định sản xuất cái gì, quyết định sản
xuất nh thế nào và quyết định sản xuất cho ai.
1.2.1. Quyết định sản xuất cái gì.
Quyết định sản xuất cái gì đòi hỏi phải làm rõ nên sản xuất hàng hoá,
dịch vụ gì với số lợng bao nhiêu, bao giờ thì sản xuất.
Nhu cầu của thị trờng về hàng hoá và dịch vụ rất phong phú, đa dạng và
ngày một tăng về cả số lợng và chất lợng. Nhng trên thực tế nhu cầu có khả
năng thanh toán lại thấp hơn, cho nên muốn thoả mãn nhu cầu lớn trong khi
khả năng thanh toán lại có hạn, xã hội và con ngời phải lựa chọn từng loại
nhu cầu có lợi nhất cho xã hội, cho ngời tiêu dùng. Tổng số các nhu cầu có
khả năng thanh toán của xã hội, của ngời tiêu dùng cho ta biết đợc nhu cầu
có khả năng thanh toán của thị trờng. Nhu cầu này là căn cứ, là xuất phát
điểm để định hớng cho các chính phủ và các nhà kinh doanh quyết định
việc sản xuất và cung ứng của mình.
Trên cơ sở nhu cầu của thị trờng, các chính phủ và các nhà kinh doanh
tính toán khả năng sản xuất của nền kinh tế, của doanh nghiệp và các chi
phí sản xuất tơng ứng để lựa chọn và quyết định sản xuất và cung ứng cái
mà thị trờng cần để có thể đạt lợi nhuận tối đa. Việc lựa chọn để quyết định
sản xuất cái gì chính là quyết định sản xuất những loại hàng hoá, dịch vụ
nào, số lợng bao nhiêu, chất lợng nh thế nào, khi nào cần sản xuất và cung
ứng. Cung, cầu cạnh tranh trên thị trờng tác động qua lại với nhau để có ảnh
hởng trực tiếp đến việc xác định giá cả thị trờng và số lợng hàng hóa cần
cung cấp trên thị trờng. Giá cả thị trờng là thông tin có ý nghĩa quyết định
5
đối với việc lựa chọn sản xuất và cung ứng những hàng hoá nào có lợi nhất
cho cả cung và cầu trên thị trờng. Giá cả trên thị trờng là bàn tay vô hình
điều chỉnh quan hệ cung cầu và giúp chúng ta lựa chọn và quyết định sản
xuất.
1.2.2. Quyết định sản xuất nh thế nào.
Quyết định sản xuất nh thế nào nghĩa là do ai và những tài nguyên nào
với hình thức công nghệ nào, phơng pháp sản xuất nào.
Sau khi đã lựa chọn cần sản xuất cái gì, các chính phủ, các nhà kinh
doanh phải xem xét và lựa chọn việc sản xuất những hàng hoá và dịch vụ đó
nh thế nào để sản xuất nhanh và nhiều hàng hoá theo nhu cầu thị trờng với
chi phí ít nhất, cạnh tranh thắng lợi trên thị trờng để có lợi nhuận cao nhất.
Động cơ lợi nhuận đã khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm, lựa chọn
các đầu vào tốt nhất với chi phí thấp nhất, lựa chọn các phơng pháp sản xuất
có hiệu quả nhất. Phơng pháp đó kết hợp tất cả các yếu tố đầu vào để sản
xuất ra đầu ra nhanh nhất, sản xuất đựơc nhiều nhất và chất lợng cao nhất
với chi phí thấp nhất. Nói một cách cụ thể là phải lựa chọn và quyết định là
giao cho ai, sản xuất hàng hoá dịch vụ này bằng nguyên vật liệu gì, thiết bị
dụng cụ nào, công nghệ sản xuất ra sao để đạt tới lợi nhuận cao nhất, thu
nhập quốc dân lớn nhất.
Để đứng vững và cạnh tranh thắng lợi trên trị trờng, các doanh nghiệp
phải luôn luôn đổi mới kỹ thuật và công nghệ, nâng cao trình độ công nhân
và lao động quản lý nhằm tăng hàm lợng chất xám trong hàng hoá và dịch
vụ. Chất lợng hàng hoá và dịch vụ là vấn đề có ý nghĩa quyết định sống còn
trong cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trờng, chất lợng cao đảm bảo chữ tín của
doanh nghiệp với bạn hàng, chiếm lĩnh đợc thị trờng và cạnh tranh thắng
lợi.
1.2.3. Quyết định sản xuất cho ai.
Quyết định sản xuất cho ai đòi hỏi phải xác định rõ ai sẽ đợc hởng và đợc
lợi từ những hàng hoá và dịch vụ của đất nớc.
Thị trờng quyết định giá cả của các yếu tố sản xuất, do đó thị trờng cũng
quyết định thu nhập của các đầu ra - thu nhập về hàng hoá dịch vụ. Thu
6
nhập của xã hội, của tập thể hay của cá nhân phụ thuộc vào quyền sở hữu và
giá trị của các yếu tố sản xuất, phụ thuộc vào lợng hàng hoá và giá cả của
các loại hàng hoá dịch vụ. Vấn đề mấu chốt ở đây cần giải quyết là những
hàng hoá và dịch vụ sản xuất phân phối cho ai để vừa có thể kích thích
mạnh mẽ sự phát triển kinh tế có hiệu quả cao, vừa đảm bảo sự công bằng
xã hội. Nói một cách cụ thể là sản phẩm quốc dân thu nhập thuần tuý của
doanh nghiệp sẽ đợc phân phối cho xã hội, cho tập thể và cho cá nhân nh
thế nào để tạo động lực kích thích cho sự phát triển kinh tế xã hội và đáp
ứng đợc các nhu cầu công cộng và các nhu cầu xã hội khác. Về nguyên tắc
thì cần đảm bảo cho mọi ngời lao động đợc hởng và đợc lợi từ những hàng
hoá và dịch vụ của doanh nghiệp đã tiêu thụ căn cứ vào những cống hiến
của họ (cả lao động sống và lao động vật hoá ) đối với quá trình sản xuất ra
những hàng hoá dịch vụ ấy, đồng thời chú ý thoả đáng đến những vấn đề xã
hội đối với con ngời.
Theo ngôn ngữ kinh tế học thì ba vấn đề kinh tế cơ bản nói ở trên đều cần
đợc giải quyết trong mọi xã hội, dù là một nhà nớc xã hội chủ nghĩa, một
nhà nớc công nghiệp t bản, một công xã, một bộ tộc, một địa phơng, một
nghành, một doanh nghiệp hay thậm chí cả đối với một đàn ong mật. Mỗi
một đơn vị tổ chức nh vậy phải quyết định tốt nhất : sản xuất những đầu ra
nào, số lợng bao nhiêu, chất lợng nh thế nào ?. Sản xuất những đầu ra ấy
bằng những đầu vào nào, kỹ thuật gì, công nghệ ra sao để có chi phi thấp
nhất? cần sản xuất và phân phối các đầu ra đó cho ai là tối u nhất ?
Quá trình phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp chính là quá trình lựa
chọn để quyết định tối u ba vấn đề cơ bản nói trên. Nhng việc lựa chọn để
quyết định tối u ba vấn đề ấy lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã
hội, khả năng và điều kiện, phụ thuộc vào việc lựa chọn hệ thống kinh tế để
phát triển, phụ thuộc vào vai trò, trình độ và sự can thiệp của các chính phủ,
phụ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội của mỗi nớc.
1.3. Môi trờng bên ngoài của doanh nghiệp.
Về cơ bản mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận, muốn vậy, doanh
nghiệp phải giải quyết đợc mối quan hệ giữa mình với thị trờng (môi trờng
bên ngoài ), tức là giải quyết mối quan hệ cung - cầu và giá cả của mình.
Cụ thể hơn, trong mối quan hệ này doanh nghiệp cần giải quyết sao cho:
7
- Giảm đợc các chi phí đến mức thấp nhất.
- Thu đợc lợi nhuận lớn nhất.
Thực hiện đợc điều đó có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ngày càng sinh lợi
nhiều hơn và đó chính là mục tiêu cơ bản nhất của một doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trờng.
2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cạnh tranh là gì?
Cạnh tranh là việc đánh giá xem xét một doanh nghiệp có sức mạnh thị
trờng hay khả năng thay đổi giá cả thị trờng của một loại hàng hoá, dịch
vụ hay không.
- Cạnh tranh hoàn hảo là trờng hợp cạnh tranh xảy ra khi không một nhà
sản xuất nào có thể tác động vào giá cả thị trờng.Giá cả của hàng hoá là do
quy luật cung- cầu trên thị trờng quyết định.
- Cạnh tranh không hoàn hảo: là trờng hợp cạnh tranh xảy ra khi giá cả
của hàng hoá không còn đợc quyết định bởi quy luật cung- cầu trên thị tr-
ờng. Khi đó có một hoặc một vài nhà sản xuất có sức mạnh thị trờng tức là
có thể thay đổi giá cả sản phẩm của họ.
Ngời ta đã chứng minh đợc rằng trong môi trờng cạnh tranh hoàn hảo,
mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, thị trờng sẽ phân bổ
tối u các nguồn lực khan hiếm vốn có theo nghĩa rằng không thể có cách
phân bổ khác có lợi hơn cho ai trong xã hội mà không làm hại đến ngời
khác.
2.1 Vai trò của cạnh tranh.
Có thể nói, áp lực cạnh tranh của thị trờng là đông lực cho sự phát triển.
Cạnh tranh sẽ dẫn đến các doanh nghiệp muốn tồn tại sẽ phải tìm cách giảm
chi phí, cải tiến công nghệ, chất lợng, mẫu mã của sản phẩm để từ đó giảm
giá bán nhằm tăng khối lợng sản phẩm tiêu thụ và từ đó tăng lợi nhuận của
doanh nghiệp.
8
Nhà sản xuất có thể dễ dàng tham gia vào thị trờng cạnh tranh để kiếm
lợi nhuận. Tuy nhiên, một đặc trng cơ bản nữa của cạnh tranh là lợi nhuận
giảm dần, song điều đó lại có nghĩa là các nguồn tài nguyên đợc phân phối
lại để sản xuất cơ cấu sản lợng mong muốn.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đợc thể hiện ở nhiều mặt :
- Chi phi sản xuất kinh doanh, khả năng hạ thấp chi phí sán xuất kinh
doanh.
- Chất lợng sản phẩm hàng hoá, khả năng tăng chất lợng sản phẩm hàng
hoá.
- Cơ cấu sản phẩm hàng hoá, khả năng chuyển đổi cơ cấu sản phẩm hàng
hoá.
- Thông tin, khả năng xử lý thông tin của doanh nghiệp.
-Thông tin về sản phẩm, để từ đó tăng mức hấp dẫn của sản phẩm đối với
ngời tiêu dùng
Do đa đến những ý tởng mới, công nghệ mới, sản phẩm mới, hình thức
tổ chức, dịch vụ và tiếp thị mới, nên cạnh tranh đảm bảo tính năng động của
nền kinh tế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng.
2.2 Sự cần thiết khách quan của việc nâng cao khả năng cạnh tranh
2.2.1 Sự cần thiết khách quan của việc nâng cao khả năng cạnh tranh
Hiện nay, ở nớc ta các doanh nghiệp đều rất quan tâm đến khả năng
cạnh tranh.
Thực chất, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là lợi thế về tất cả các
mặt : giá cả, giá trị sử dụng, uy tín, công nghệ, tiềm lực tài chính so với các
đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn đến mức tốt nhất các đòi hỏi của thị tr-
ờng. Nh vậy, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là thay đổi mối tơng
quan về thế và lực của doanh nghiệp trên thị trờng về mọi mặt của quá trình
sản xuất kinh doanh.
9
Trong cơ chế thị trờng, cạnh tranh là một tất yếu khách quan. Mà cạnh
tranh về kinh tế khác hẳn so với cạnh tranh để đạt giải thởng nào đó. Nó là
một cuộc chạy đua không đơn cuộc, không phải một lần thôi mà là một quá
trình liên tục. Đó là một cuộc "Maratông kinh tế" không có đích cuối cùng. Ai
cảm nhận thấy đích, ngời đó trở thành nhịp cầu cho các đối thủ vơn lên phía tr-
ớc. Chạy đua kinh tế phải luôn luôn ở phía trớc để tránh những trận đòn của
ngời chạy phía sau. Hơn nữa, chạy đua về mặt kinh tế không phải chỉ để thắng
một trận tuyến mà là để thắng trên hai trận tuyến. Một trận tuyến diễn ra giữa
hai phe của hệ thống thị trờng, còn trận tuyến kia diễn ra giữa hai phe của
cùng một phía. Nói cách khác, đây là cạnh tranh giữa ngời mua với ngời bán
và cạnh tranh giữa ngời bán với nhau.
Mỗi doanh nghiệp không thể lẩn tránh cạnh tranh, vì nh vậy là cầm
chắc sự phá sản, phải chấp nhận cạnh tranh, đón trớc cạnh tranh và sẵn sàng,
linh hoạt sử dụng công cụ cạnh tranh để nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Nói tóm lại, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là
một tất yếu khách quan.
2.3 Các nhân tố ảnh hởng:
2.3.1 Các nhân tố khách quan:
- Nhân tố kinh tế : các nhân tố này dù ở cấp độ nào cũng có vai trò
quan trọng và quyết định hàng đầu nh: trạng thái phát triển của nền kinh tế,
tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng, các chính sách kinh tế
của nhà nớc
- Nhân tố chính trị pháp luật : đây là nền tảng quyết định các yếu tố
của môi trờng kinh doanh, không có môi trờng kinh doanh thoát li quan
điểm chính trị và nền tảng pháp luật. Hệ thống pháp luật, các chính sách,
chế độ đồng bộ, hoàn thiện tạo khung pháp lý và giới hạn cho việc bảo đảm
quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.
10
- Nhân tố về công nghệ kỹ thuật : Các ảnh hởng của nhân tố công
nghệ- kỹ thuật cho thấy các cơ hội và mối đe doạ cần phải đợc xem xét
trong việc soạn thảo và thực thi chiến lợc. Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ có
ảnh hởng một cách trực tiếp và quyết định đến hai yếu tố tạo nên khả năng
cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ trên thị trờng đó là chất lợng và giá
bán của các sản phẩm đó, nó có tác động đến thị trờng, các nhà cung cấp,
khách hàng, quá trình sản xuất và vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp
trên thị trờng.
- Nhân tố về văn hoá - xã hội: Các nhân tố này ảnh hởng một cách chậm
chạp, song cũng rất sâu sắc đến môi trờng kinh doanh. Sự xung đột về văn
hóa- xã hội trong quá trình mở cửa và hội nhập càng thể hiện rõ hơn, do vậy
một doanh nghiệp muốn thành công phải nhận thức rõ đợc tầm quan trọng
của yếu tố này.
2.3.2 Nhân tố chủ quan:
- Khách hàng: là thị trờng của doanh nghiệp, số lợng, kết cấu khách
hàng, quy mô, nhu cầu động cơ mua hàng, thị hiếu, yêu cầu của khách
hàng là các yếu tố cần phải tính đến trong hoạch định kinh doanh.
- Số lợng các doanh nghiệp trong ngành và các doanh nghiệp tiềm ẩn:
Trớc hết, số lợng các doanh nghiệp và quy mô sản xuất kinh doanh của
chúng ảnh hởng đến khả năng cung ứng hàng hoá và dịch vụ của ngành và
mức độ gay gắt của cuộc cạnh tranh nội bộ ngành. Thứ đến, sự hợp tác
chống lại sự thâm nhập của các doanh nghiệp mới vào ngành và sự hợp tác
chống lại sự cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu.
- Số lợng và sức ép của các nhà cung cấp: Các yếu tố đầu vào phục vụ
cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có ảnh hởng lớn đến môi
trờng cạnh tranh nội bộ ngành. Số lợng đông đảo các nhà cung cấp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau là thể hiện sự phát triển của thị trờng các
yếu tố đầu vào.
- Sức ép của các sản phẩm thay thế: trong nền kinh tế thị trờng, sản phẩm
thay thế ra đời là một đòi hỏi tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu thị trờng ngày
càng biến động nhanh theo hớng đa dạng hơn, phong phú hơn và ngày càng
11
cao cấp hơn. Đòi hỏi về sản phẩm thay thế hoặc sức ép của các sản phẩm
thay thế có thể tạo thuận lợi cho nhóm doanh nghiệp này và gây khó khăn
thậm chí là gây tổn thất cho các doanh nghiệp khác.
2.4 Một số chỉ tiêu thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể dựa vào 1 số
chỉ tiêu sau:
2.4.1 Thị phần: Là một chỉ tiêu hay đợc sử dụng để đánh giá.
Khi xem xét ngời ta thờng xem xét các loại thị phần sau:
- Thị phần của Công ty so với toàn bộ thị trờng: Đó chính là tỷ lệ %
giữa các doanh số của Công ty so với doanh số của toàn ngành.
- Thị phần của Công ty so với phân khúc mà nó phục vụ: Đó là tỷ lệ %
giữa doanh số của Công ty so với doanh số của toàn phân khúc.
- Thị phần tơng đối: Đó là tỷ lệ so sánh về doanh số của Công ty với đối
thủ cạnh tranh mạnh nhất. Nó cho biết vị thế của sản phẩm trong cạnh tranh
trên thị trờng nh thế nào ?
Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này mà doanh nghiệp biết
mình đang đứng ở vị trí nào, và cần phải vạch ra chiến lợc hành động nh thế
nào.
Tuy nhiên phơng pháp này khó đảm bảo tính chính xác.
2.4.2. Doanh thu / doanh thu của các đối thủ mạnh nhất.
Nếu sử dụng chỉ tiêu này ngời ta có thể chọn từ 2 đến 5 doanh nghiệp
mạnh nhất tùy theo lĩnh vực cạnh tranh khác nhau mà chọn khác nhau.
- Chỉ tiêu này có u điểm: Đơn giản, dễ tính.
- Nhợc điểm: Cha chính xác, khó lựa chọn các doanh nghiệp mạnh nhất
vì trong mỗi lĩnh vực có doanh nghiệp đứng đầu khác nhau.
12
2.4.3. Tỷ suất lợi nhuận :
Một trong các chỉ tiêu thể hiện tiềm năng cạnh tranh của doanh nghiệp
là: Tỷ suất Lợi nhuận / Doanh thu.
2.4.4 Một số chỉ tiêu khác :
- Tốc độ tăng trởng của sản phẩm cạnh tranh.
- Tỷ lệ chi phí lớn nhất / Tổng doanh thu.
II. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở nớc
ta hiện nay.
1. Cạnh tranh và các chính sách cạnh tranh ở nớc ta hiện nay.
Cũng nh bất kỳ nền kinh tế nào chấp nhận thị trờng nh là một cơ chế đảm
bảo hiệu quả cho các hoạt động kinh tế, các doanh nghiệp cần đợc có các
chính sách cạnh tranh nhất là theo nghĩa rộng.
Trớc hết môi trờng cạnh tranh kinh tế chung của Việt Nam đã trở nên xấu
hơn trong hai ba năm lại đây. Nền kinh tế Việt Nam đã bộc lộ những biểu
hiện đáng lo ngại trong việc thiết lập và duy trì các nhân tố tạo tăng trởng
bền vững, liên quan đến đầu t và tiết kiệm trong nớc, cán cân thanh toán,
tính hiệu quả của khu vực doanh nghiệp nhà nớc, hệ thống tài chính ngân
hàng, chế độ thơng mại, tỷ giá và chế độ quản lý hối đoái, minh bạch chính
sách và hệ thống thông tin kinh tế. Điểm yếu của ta thể hiện ở các nhân tố:
chế độ chính sách, vai trò chính phủ, tài chính ngân hàng, kết cấu hạ tầng,
công nghệ, quản trị, lao động và thể chế.
ở đây tính không hiệu quả của đầu t nhà nớc, khu vực doanh nghiệp nhà
nớc là những vấn đề nghiêm trọng.
Cấu trúc thị trờng Việt Nam có những nét đặc trng nổi bật và dễ nhận
thấy nhất là sự độc quyền và chi phối thị trờng của các doanh nghiệp nhà n-
ớc trong rất nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ. Hiện trạng chủ đạo thị tr-
ờng của khu vực doanh nghiệp nhà nớc lại đợc tăng cờng thêm bằng sự ra
đời của một loạt tổng công ty, các liên doanh với nớc ngoài vốn chủ yếu chỉ
làm ăn với doanh nghiệp nhà nuớc.
13
Trong môi trờng pháp lý, thể chế và với cấu trúc thị trờng nh vậy, thì điều
dễ hiểu là các thị trờng còn bị chia cắt, phạm vi những hoạt động ngầm phi
chính thức còn ở qui mô lớn, mức độ độc quyền trên thị trờng và các hành
vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh ( nh theo hớng đàm
phán cấu kết, phân biệt đối xử, lạm dụng vị thế để phân chia thị trờng,
khống chế giá, quảng cáo, tiếp thị dối trá, sản xuất hàng giả, vi phạm bản
quyền ) đợc khuyến khích; hiệu quả của cơ chế lan toả của các chính
sách, nhất là chính sách kinh tế vĩ mô, qua thị trờng rất hạn chế.
Một khi các kích thích chính sách có thiên hớng gây ra méo mó thị trờng,
thì sẽ là hợp lý cho các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực theo tín hiệu
chính sách và tìm cách thu đợc siêu lợi nhuận nhờ những méo mó đó.
Kết quả diễn ra là sự sôi động của các hoạt động chạy chọt lợi ích vây
quanh khu vực kinh tế nhà nớc của tất cả các loại hình doanh nghiệp.
2. Những lợi thế và khó khăn của doanh ngiệp.
2-1. Lợi thế của doanh nghiệp.
Đối với những nhà đầu t, bất luận dù là pháp nhân hay thể nhân, một khi
đã bỏ vốn kinh doanh ai cũng nhằm đến mục đích hàng đầu là lợi nhuận.
Trong luật doanh nghiệp, quyền đuợc yêu cầu cung cấp thông tin về đăng
ký kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào, cũng dịnh hớng cho các nhà
đầu t mới đủ thời gian lựa chọn và quyết định để đồng vốn của mình hạn
chế một cách tối đa yếu tố trùng lặp ngành nghề và hạn chế tối đa những
đối đầu cạnh tranh. Giá trị tiến bộ này sẽ giúp nhà đầu t tìm ra càng nhiều
lợi nhuận.
Luật công ty của các nớc ASEAN tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh
nghiệp trong nớc hợp tác liên doanh với bên ngoài phù hợp với tiến trình hội
nhập quốc tế mà nớc ta đã cam kết trong khuôn khổ các hiệp định đa phơng
và song phơng.
Chính sách đối ngoại rộng mở đúng đắn của Việt Nam, tạo điều kiện cho
hoạt động của các thành phần kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
nhà nớc nối vòng tay lớn để hợp tác làm ăn với tất cả các nớc trên cơ sở
bình đẳng tong trợ lẫn nhau cùng có lợi.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét