Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

TÌM HIỂU VÀ ỨNG DỤNG CỦA VỐN LƯU ĐỘNG TRONG THỰC TẠI

GVHD: NCS. Trần Thị Huế Chi Nhóm: Nice Lớp: NCQT3A
Qua cách phân loại này giúp doanh nghiệp có cơ sở xác định nhu cầu vốn
lưu động được đúng đắn.
1.1.3.3- Phân loại Vốn lưu động theo quan hệ sở hữu về vốn:
- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt.
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn
chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước;
vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần;
vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi
nhuận doanh nghiệp
- Các khoản nợ: Là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân
hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát hành
trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh nghiệp chỉ có
quyền sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp
được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ
đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý
hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.1.3.4- Phân loại Vốn ưu động theo nguồn hình thành:
Nếu xét theo nguồn hình thành thì tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi các
nguồn vốn sau:
- Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn được hình thành từ nguồn vốn điều lệ
ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại
hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung
trong quá trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái
đầu tư.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số vốn được hình thành từ vốn góp
liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có
Tiểu luận môn quản trị tài chính 5
GVHD: NCS. Trần Thị Huế Chi Nhóm: Nice Lớp: NCQT3A
thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá theo thoả thuận của các
bên liên doanh.
- Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của các ngân hành thương mại hoặc tổ
chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh
nghiệp khác.
- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu,
trái phiếu.
Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh
nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh
doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử
dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để
giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình.
1.2 NỘI DUNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG
1.2.1 Quản trị vốn bằng tiền
Tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu
tư chứng khoán ngắn hạn là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của
doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu
dự trữ vốn tiền mặt ở một quy mô nhất định. Nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt trong
các doanh nghiệp thông thường là để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như
mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết.
Ngoài ra còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng phó với những nhu
cầu vốn bất thường chưa dự đoán được và động lực trong việc dự trữ tiền mặt để
sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện các cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao.
Việc duy trì một mức dự trữ vốn tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh
nghiệp có cơ hội thu được chiết khấu trên hàng mua trả đúng kỳ hạn, làm tăng
hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.
Tiểu luận môn quản trị tài chính 6
GVHD: NCS. Trần Thị Huế Chi Nhóm: Nice Lớp: NCQT3A
Quy mô vốn tiền mặt là kết quả thực hiện nhiều quyết định kinh doanh
trong các thời kỳ trước, song việc quản trị vốn tiền mặt không phải là một công
việc thụ động. Nhiệm vụ quản trị vốn tiền mặt do đó không phải chỉ là đảm bảo
cho doanh nghiệp có đủ lượng vốn tiền mặt cần thiết để đáp ứng kịp thời các nhu
cầu thanh toán mà quan trọng hơn là tối ưu hóa số vốn tiền mặt hiện có, giảm tối
đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái và tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn
hoặc đầu tư kiếm lời.
1.2.1.1- Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý
Mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý cần được xác định sao cho doanh nghiệp
có thể tránh được các rủi ro do không có khả năng thanh toán ngay, phải gia hạn
thanh toán nên bị phạt hoặc phải trả lãi cao hơn, không làm mất khả năng mua
chịu của nhà cung cấp, tận dụng các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho
doanh nghiệp.
Phương pháp đơn giản thường dùng để xác định mức dự trữ ngân quỹ
hợp lý là lấy mức xuất ngân quỹ trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày
dự trữ ngân quỹ.
Người ta cũng có thế sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu trong
quản trị vốn tồn kho dự trữ để xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý của
doanh nghiệp. Bởi vì giả sử doanh nghiệp có một lượng tiền mặt và phải sử dụng
nó để đáp ứng các khoản chi tiêu tiền mặt một cách đều đặn. Khi lượng tiền mặt
đã hết, doanh nghiệp có thể bán các chứng khoán ngắn hạn (có tính thanh khoản
cao) để có được lượng tiền mặt như lúc đầu. Có hai loại chi phí cần được xem
xét khi bán chứng khoán: một là chi phí cơ hội của việc giữ tiền mặt, đó chính là
mức lợi tức chứng khoán doanh nghiệp bị mất đi; hai là chi phí cho việc bán
chứng khoán mỗi lần, đóng vai trò như là chi phí mỗi lần thực hiện hợp đồng.
Trong điều kiện đó mức dự trữ vốn tiền mặt tối đa của doanh nghiệp chính bằng
số lượng chứng khoán cần bán mỗi lần để có đủ lượng vốn tiền mặt mong muốn
bù đắp được nhu cầu chi tiêu tiền mặt. Công thức tính như sau:
Tiểu luận môn quản trị tài chính 7
1
2
max
)(2
C
xCQ
Q
n
=
GVHD: NCS. Trần Thị Huế Chi Nhóm: Nice Lớp: NCQT3A

Mức vốn tiền mặt dự trữ trung bình là:
Trong đó:
Q
max
: Số lượng tiền mặt dự trữ tối đa
Q
n
: Lượng tiền mặt chi dùng trong năm
C
1
: Chi phí lưu giữ đơn vị tiền mặt
C
2
: Chi phí một lần bán chứng khoán
1.2.1.2 Dự đoán và quản lý các luồng nhập, xuất vốn tiền mặt (ngân quỹ):
Dự đoán ngân quỹ là tập hợp các dự kiến về nguồn và sử dụng ngân quỹ.
Ngân quỹ hàng năm được lập vừa tổng quát, vừa chi tiết cho từng tháng và tuần.
Dự đoán các luồng nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ kết quả
kinh doanh; từ kết quả hoạt động tài chính; luồng đi vay và các luồng tăng vốn
khác. Trong các luồng nhập ngân quỹ kể trên, luồng nhập ngân quỹ từ kết quả
kinh doanh là quan trọng nhất. Nó được dự đoán dựa trên cơ sở các khoản doanh
thu bằng tiền mặt dự kiến trong kỳ.
Dự đoán các luồng xuất ngân quỹ thường bao gồm các khoản chi cho
hoạt động kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các khoản chi cho hoạt
động đầu tư theo kế hoạch của doanh nghiệp; các khoản chi trả tiền lãi phải
chia, nộp thuế và các khoản chi khác.
Trên cơ sở so sánh các luồng nhập và luồng xuất ngân quỹ, doanh
nghiệp có thể thấy được mức dư hay thâm hụt ngân quỹ. Từ đó thực hiện các
biện pháp cân bằng thu chi ngân quỹ như tăng tốc độ thu hồi các khoản nợ phải
thu, đồng thời giảm tốc độ xuất quỹ nếu có thể thực hiên được hoặc khéo léo sử
dụng các khoản nợ đang trong quá trình thanh toán. Doanh nghiệp cũng có thể
huy động các khoản vay thanh toán của ngân hàng. Ngược lại khi luồng nhập
ngân quỹ lớn hơn luồng xuất ngân quỹ thì doanh nghiệp có thể sử dụng phần dư
ngân quỹ để thực hiện các khoản đầu tư trong thời hạn cho phép để nâng cao
hiệu quả sử dụng số vốn tạm thời nhàn rỗi của mình.
Tiểu luận môn quản trị tài chính 8
2
max
Q
Q
=
GVHD: NCS. Trần Thị Huế Chi Nhóm: Nice Lớp: NCQT3A
1.2.1.3 - Quản lý sử dụng các khoản thu chi vốn tiền mặt:
Hoạt động thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp diễn ra hàng ngày,
hàng giờ; hơn nữa vốn tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt có khả năng thanh
toán cao, dễ dàng chuyển hoá sang các hình thức tài sản khác, vì vậy doanh
nghiệp phải có biện pháp quản lý, sử dụng vốn tiền mặt một cách chặt chẽ để
tránh bị mất mát, lợi dụng. Các biện pháp quản lý cụ thể là:
Thứ nhất, mọi khoản thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp đều phải
thực hiện thông qua quỹ, không được thu chi ngoài quỹ, tự thu tự chi.
Thứ hai, phải có sự phân định trách nhiệm rõ ràng trong quản lý vốn tiền
mặt, nhất là giữa thủ quỹ và kế toán quỹ; phải có các biện pháp quản lý bảo đảm
an toàn kho quỹ.
Thứ ba, doanh nghiệp phải xây dựng các quy chế thu chi bằng tiền mặt
để áp dụng cho từng trường hợp thu chi. Thông thường các khoản thu chi không
lớn thì có thể sử dụng tiền mặt, còn các khoản thu chi lớn cần sử dụng hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt.
Quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt, cần xác định rõ đối tượng
tạm ứng, mức tạm ứng và thời hạn thanh toán tạm ứng để thu hồi kịp thời.
1.2.2 - Quản trị hàng tồn kho dự trữ:
1.2.2.1-Tồn kho dự trữ và các nhân tố ảnh hưởng đến tồn kho dự trữ:
Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu
giữ để sản xuất hoặc bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp tài sản tồn kho dự
trữ thường ở ba dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm
dở dang và bán thành phẩm; các thành phẩm chờ tiêu thụ. Tuỳ theo nghành nghề
kinh doanh mà tỷ trọng các loại tài sản dự trữ trên có khác nhau.
Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng,
không phải chỉ vì trong doanh nghiệp tồn kho dự trữ thường chiếm tỉ lệ đáng kể
trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là nhờ có dự trữ
Tiểu luận môn quản trị tài chính 9
GVHD: NCS. Trần Thị Huế Chi Nhóm: Nice Lớp: NCQT3A
tồn kho đúng mức, hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn sản
xuất, không bị thiếu sản phẩm hàng hoá để bán, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm
và hợp lý vốn lưu động.
Đối với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thường phụ
thuộc vào: quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của
doanh nghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường, chu kỳ giao hàng,
thời gian vận chuyển và giá cả của các loại nguyên vật liệu.
Đối với mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang phụ
thuộc vào: đặc điểm và các yếu cầu về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế
tạo sản phẩm, độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm, trình độ tổ chức quá
trình sản xuất của doanh nghiệp.
Đối với tồn kho dự trữ sản phẩm thành phẩm, thường chịu ảnh hưởng
bởi các nhân tố như sự phối hợp giữa khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
1.2.2.2- Các phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ:
*- Phương pháp tổng chi phí tối thiểu
Mục tiêu của việc quản trị vốn tồn kho dự trữ là nhằm tối thiểu hoá các
chi phí dự trữ tài sản tồn kho trong điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động
sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường.
Việc lưu giữ một lượng hàng tồn kho làm phát sinh các chi phí. Tồn kho
càng lớn, vốn tồn kho dự trữ càng lớn thì không thể sử dụng cho mục đích khác
và làm tăng chi phí cơ hội của số vốn này.Vì vậy, doanh nghiệp cần xem xét
mức dự trữ hợp lý để giảm tổng chi phi dự trữ tồn kho tới mức thấp nhất.
Phương pháp quản lý dự trữ tồn kho theo nguyên tắc trên được gọi là phương
pháp tổng chi phí tối thiểu.
*- Phương pháp tồn kho bằng không
Phương pháp này cho rằng các doanh nghiệp có thể giảm thấp các chi
phí tồn kho dự trữ đến mức tôí thiểu với điều kiện các nhà cung cấp phải cung
ứng kịp thời cho doanh nghiệp các loại vật tư, hàng hoá khi cần thiết. Do đó có
thể giảm được các chi phí lưu kho cũng như các chi phí thực hiện hợp đồng.
Tiểu luận môn quản trị tài chính 10
GVHD: NCS. Trần Thị Huế Chi Nhóm: Nice Lớp: NCQT3A
Phương pháp này có ưu điểm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể dành ra một
khoản ngân quỹ sử dụng cho đầu tư mới; tuy nhiên phương pháp này lại làm
tăng các chi phí phát sinh từ việc tổ chức giao hàng đối với các nhà cung cấp.
1.2.3 - Quản trị các khoản phải thu, phải trả:
1.2.3.1- Quản trị các khoản phải thu:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để khuyến khích người mua, doanh
nghiệp thường áp dụng phương thức bán chịu đối với khách hàng. Điều này có
thể làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của
khách hàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi
ro Đổi lại doanh nghiệp cũng có thể tăng thêm được lợi nhuận nhờ mở rộng số
lượng sản phẩm tiêu thụ. Quy mô các khoản phải thu chịu ảnh hưởng bởi các
nhân tố như sau:
Thứ nhất, khối lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán chịu cho khách
hàng.
Thứ hai, sự thay đổi theo thời vụ của doanh thu: đối với các doanh
nghiệp sản xuất có tính chất thời vụ, trong những thời kỳ sản phẩm của doanh
nghiệp có nhu cầu tiêu thụ lớn, cần khuyến khích tiêu thụ để thu hồi vốn.
Thứ ba, thời hạn bán chịu và chính sách tín dụng của mỗi doanh
nghiệp: đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản
phẩm có đặc điểm sử dụng lâu bền thì kỳ thu tiền bình quân thường dài hơn các
doanh nghiệp ít vốn, sản phẩm dễ hư hao, mất phẩm chất, khó bảo quản.
1.2.3.2- Quản trị các khoản phải trả:
Khác với các khoản phải thu, các khoản phải trả là các khoản vốn mà
doanh nghiệp phải thanh toán cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các
khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người
lao động. Việc quản trị các khoản phải trả không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp phải
thường xuyên duy trì một lượng vốn tiền mặt để để đáp ứng yêu cầu thanh toán
mà còn đòi hỏi việc thanh toán các khoản phải trả một cách chính xác, an toàn và
nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng.
Tiểu luận môn quản trị tài chính 11
GVHD: NCS. Trần Thị Huế Chi Nhóm: Nice Lớp: NCQT3A
Để quản lý tốt các khoản phải trả, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm
tra, đối chiếu các khoản phải thanh toán với khả năng thanh toán của doanh
nghiệp để chủ động đáp ứng các yêu cầu thanh toán khi đến hạn. Doanh nghiệp
còn phải lựa chọn các hình thức thanh toán thích hợp an toàn và hiệu quả nhất
đối với doanh nghiệp.
1.2.4 - Quản trị vốn lưu động khác:
Tài sản lưu động khác bao gồm: các khoản tạm ứng, chi phí trả trước,
cầm cố, ký cược, ký quỹ ngắn hạn
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, theo yêu cầu của bên đối tác,
khi vay vốn, thuê mượn tài sản hoặc mua bán đấu thầu làm đại lý doanh nghiệp
phải tiến hành cầm cố, ký quỹ, ký cược.
Cầm cố là bên có nghĩa vụ (doanh nghiệp) giao một động sản thuộc sở
hữu của mình hoặc một quyền tài sản được phép giao dịch cho bên có quyền
(phía đối tác) để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ hay thoả thuận.
Ký cược (đặt cược) là việc bên thuê tài sản theo yêu cầu của bên cho
thuê động sản phải đặt cược một số tiền hoặc kim khí quý, đá quý hay các vật có
giá trị khác nhằm ràng buộc và nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng
tài sản đi thuê và hoàn trả tài sản đúng thời gian quy định với người đi thuê.
Trường hợp bên thuê không trả lại tài sản thì tài sản ký cược thuộc về bên cho
thuê.
Ký quỹ là việc bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải gửi trước một
số tiền, kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ khác giá trị được bằng tiền vào tài
khoản phong toả tại Ngân hàng. Số tiền ký quỹ sẽ ràng buộc bên ký quỹ phải
thực hiện cam kết, hợp đồng, đồng thời người yêu cầu ký quỹ yên tâm khi giao
hàng hay nhận hàng theo những điều đã ký kết. Trong trường hợp bên ký quỹ
không tôn trọng hợp đồng sẽ bị phạt và trừ vào tiền đã ký quỹ. Bên có quyền
được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ
gây ra sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng.
Tiểu luận môn quản trị tài chính 12
GVHD: NCS. Trần Thị Huế Chi Nhóm: Nice Lớp: NCQT3A
Vốn lưu động tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Do vậy để sử dụng
vốn lưu động có hiệu quả thì cần phải quản trị tốt vốn lưu động ở từng khâu của
quá trình sản xuất và lưu thông.

Trên đây là một số vấn đề lý luận của vốn lưu động . Để hiểu sâu hơn về
Vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn lưu động.Ta nghiên cứu thực
trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty Vinamilk
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN
LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY
2.1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY
2.1.1 - Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Năm 1976, lúc mới thành lập, Công ty Sữa Việt Nam (VINAMILK) có
tên là Công ty Sữa – Cà Phê Miền Nam, trực thuộc Tổng Cục thực phẩm, bao
gồm 4 nhà máy thuộc ngành chế biến thực phẩm:
- Nhà máy Sữa Thống Nhất;
- Nhà máy Sữa Trường Thọ;
- Nhà máy Sữa Dielac;
- Nhà máy Cà Phê Biên Hoà.
Năm 1982, Công ty Sữa – Cà phê Miền Nam được chuyển giao về Bộ
Công nghiệp thực phẩm và đổi tên thành Xí nghiệp Liên hiệp Sữa - Cà phê –
Bánh kẹo I.
Năm 1989, Xí Nghiệp Liên Hiệp Sữa – Cà phê – Bánh kẹo I chỉ còn 3 nhà máy
trực thuộc:
- Nhà máy Sữa Thống Nhất.
- Nhà máy Sữa Trường Thọ.
Tiểu luận môn quản trị tài chính 13
GVHD: NCS. Trần Thị Huế Chi Nhóm: Nice Lớp: NCQT3A
- Nhà máy Sữa Dielac.
Tháng 3/1992, Xí Nghiệp Liên Hiệp Sữa – Cà phê – Bánh kẹo I chính
thức đổi tên thành Công ty Sữa Việt Nam (VINAMILK) - trực thuộc Bộ Công
nghiệp nhẹ, chuyên sản xuất, chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa.
Năm 1994, Công ty Sữa Việt Nam (VINAMILK) đã xây dựng thêm một
nhà máy sữa ở Hà Nội để phát triển thị trường tại miền Bắc, nâng tổng số nhà
máy trực thuộc lên 4 nhà máy:
- Nhà máy Sữa Thống Nhất
- Nhà máy Sữa Trường Thọ
- Nhà máy Sữa Dielac
- Nhà máy Sữa Hà Nội
Năm 1996, Xí nghiệp Liên doanh Sữa Bình Định tại Quy Nhơn ra đời,
góp phần thuận lợi đưa sản phẩm Vinamilk phục vụ rộng khắp đến người tiêu
dùng khu vực miền Trung.
Năm 2000, Công ty đã tiến hành xây dựng thêm:
- Nhà máy sữa Cần Thơ
- Xí nghiệp Kho vận;
Tháng 12/2003, Công ty chuyển sang hình thức Công ty cổ phần, chính
thức đổi tên là Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam.
Tháng 04/2004: Công ty sáp nhập nhà máy sữa Sài Gòn
(SAIGONMILK), nâng tổng vốn điều lệ của Công ty lên 1.590 tỷ đồng
Tháng 06/2005: Công ty mua lại phần vốn góp của đối tác trong Công ty
Sữa Bình Định và sáp nhập vào Vinamilk
Ngày 30/06/2005: Công ty khánh thành nhà máy sữa Nghệ An
Những thành tích đã đạt được:
Tiểu luận môn quản trị tài chính 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét