Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của liên doanh. Mỗi bên góp vốn liên doanh có quyền được hưởng một phần
kết quả hoạt động của cơ sở kinh doanh hoặc được chia sản phẩm của liên
doanh theo thỏa thuận của hợp đồng liên doanh. Cơ sở kinh doanh được đồng
kiểm soát phải tổ chức công tác kế toán riêng như các doanh nghiệp khác theo
quy định của pháp luật hiện hành về kế toán. Bên góp vốn liên doanh lập và
trình bày khoản vốn góp liên doanh trên báo cáo tài chính riêng theo phương
pháp giá gốc.
1.1.1.3. Đầu tư vào công ty liên kết:
Công ty liên kết là công ty trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể
nhưng không phải là công ty con hoặc công ty liên doanh của nhà đầu tư. Đầu
tư vào công ty liên kết phản ánh giá trị khoản đầu tư trực tiếp của nhà đầu tư
vào công ty liên kết và tình hình biến động tăng giảm giá trị khoản đầu tư vào
công ty liên kết. Nghiệp vụ đầu tư vào công ty liên kết được ghi nhận khi
khoản đầu tư đó giúp nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp từ 20% đến dưới 50%
quyền biểu quyết.
Trong báo cáo tài chính, nhà đầu tư phải trình bày:
a) Danh sách các công ty liên kết kèm theo các thông tin về phần sở hữu và tỷ
lệ(%) quyền biểu quyết, nếu tỷ lệ này khác với phần sở hữu; và
b) Các phương pháp được sử dụng để kế toán các khoản đầu tư vào công ty
liên kết.
Các khoản đầu tư vào công ty liên kết hạch toán theo phương pháp vốn
chủ sở hữu phải phân loại như các tài sản dài hạn và phản ánh thành một
khoản mục riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất. Phần sở hữu của
nhà đầu tư về lãi hoặc lỗ của những khoản đầu tư đó phải trình bày thành một
khoản mục riêng biệt trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.1.4. Đầu tư dài hạn khác:
Đầu tư dài hạn khác phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng
giảm các loại đầu tư dài hạn khác (ngoài các khoản đầu tư vào công ty con,
góp vốn vào cơ sở liên doanh đồng kiểm soát, đầu tư vào công ty liên kết),
như đầu tư trái phiếu, đầu tư cổ phiếu hoặc đầu tư vào các đơn vị khác mà
khoản đầu tư chỉ dưới 20% vốn chủ sở hữu (dưới 20% quyền biểu quyết) …
và thời hạn thu hồi hoặc thanh toán vốn đầu tư trên một năm.
1.1.2. Đặc điểm kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn:
Mục tiêu kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn là đưa ra các ý kiến về
Bảng cân đối, các khoản đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp có được thể hiện
một cách thực tế tại thời điểm cuối niên độ kế toán không (thường là 31/12);
các khoản đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp có được kê khai và đánh giá chính
xác hay không và các khoản đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp có được phân
loại và miêu tả chính xác hay không. Ngoài ra, kiểm toán viên phải xác định
xem việc lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài hạn đã chính xác và tuân
thủ chuẩn mực cũng như quy định kế toán hiện hành hay chưa.
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn sẽ được lưu lại trong thời gian hơn
một năm. Do vậy trong các cuộc kiểm toán hàng năm, mức nguyên giá của các
khoản đầu tư này không cần kiểm tra lại nếu đó là khách hàng thường niên của
công ty kiểm toán. Tuy nhiên để đảm bảo các khoản đầu tư dài hạn được mua
trong các giai đoạn trước thì phải kiểm tra sự tồn tại của các khoản đầu tư
quan trọng tại thời điểm ghi trong BCĐ. Đối với năm kiểm toán đầu tiên thì
KTV phải kiểm tra tính phân loại và trình bày của các khoản mục đầu tư dài
hạn xem có đủ điều kiện ghi nhận đầu tư dài hạn ko và dưới hình thức nào.
Khi doanh nghiệp thực tế có các cổ phiếu, trái phiếu hoặc các khoản đầu tư dài
hạn khác thì kiểm toán viên phải kiểm tra thực tế các chứng khoán đó. Khi các
khoản đầu này được một bên thứ ba độc lập với doanh nghiệp nắm giữ trên
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
danh nghĩa của doanh nghiệp thì phải kiểm tra sự tồn tại của chúng bằng cách
lấy xác nhận của bên thứ ba.
Các khoản tăng đầu tư dài hạn quan trọng thường được ghi trong biên
bản các cuộc họp quan trọng của doanh nghiệp do các khoản đầu tư đó không
được coi là các hoạt động thông thường của doanh nghiệp. Tài liệu về các
chứng nhận cổ phiếu hoặc hợp đồng liên doanh phải nằm trong hồ sơ của
doanh nghiệp.
Đối với các khoản đầu tư dài hạn bằng hình thức góp vốn liên doanh thì
Báo cáo tài chính đã kiểm toán của liên doanh phải được sử dụng để tính toán
lại thu nhập hoặc chi phí cho liên doanh trong năm của doanh nghiệp.
Việc cần thiết tạo ra một khoản dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài
hạn phải được kiểm toán viên xem xét một cách cụ thể với các khoản đầu tư
dài hạn quan trọng. Bằng chứng về việc cần thiết đó có thể được thu thập bằng
cách tham khảo các Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các bên hữu
quan đến cổ phiếu được mua bán trên thị trường chứng khoán và giá của các
trái phiếu cho đến thời điểm ghi trong Bảng cân đối hoặc việc định giá các bất
động sản đối với các tài sản tương tự.
Trong báo cáo tài chính, nhà đầu tư phải trình bày: Danh sách các công
ty liên kết kèm theo các thông tin về phần sở hữu và tỷ lệ(%) quyền biểu
quyết, nếu tỷ lệ này khác với phần sở hữu; và các phương pháp được sử dụng
để kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết.
Các khoản đầu tư vào công ty liên kết hạch toán theo phương pháp vốn
chủ sở hữu phải phân loại như các tài sản dài hạn và phản ánh thành một
khoản mục riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất. Phần sở hữu của
nhà đầu tư về lãi hoặc lỗ của những khoản đầu tư đó phải trình bày thành một
khoản mục riêng biệt trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2. Quy trình kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn:
Quy trình kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn về cơ bản giống
quy trình kiểm toán của các khoản mục khác trên Bảng cân đối, đó là: Lập kế
hoạch kiểm toán - Thực hiện kiểm toán - Kết thúc kiểm toán. Trước khi tiến
hành xây dựng kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá được hệ
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, từ đó đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm
soát để có thể xây dựng được một kế hoạch kiểm toán cho các khoản mục trên
BCTC nói chung và khoản mục đầu tư tài chính dài hạn nói riêng.
1.2.1. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng:
Trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải đánh giá hệ
thống kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát không chỉ để xác minh tính hữu
hiệu của kiểm soát nội bộ mà còn làm cơ sở cho việc xác định phạm vi thực
hiện các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ của đơn vị.
Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện theo trình tự
nhất định và có thể khái quát theo ba bước cơ bản sau:
Bước 1: Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi
tiết hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc.
Trong giai đoạn này kiểm toán viên tìm hiểu về kiểm soát nội bộ của
đơn vị trên hai mặt chủ yếu: thiết kế kiểm soát nội bộ bao gồm thiết kế về qui
chế kiểm soát và thiết kế về bộ máy kiểm soát; hoạt động liên tục và có hiệu
lực của kiểm soát nội bộ.
Kiểm toán viên phải thu thập thông tin về tính trung thực của Ban giám
đốc với bản chất và phạm vi của các sổ sách kế toán để xác minh các bằng
chứng đủ thích hợp và có sẵn để chứng minh cho các số dư trên BCTC.
Riêng với khoản mục đầu tư tài chính dài hạn thường được xem là
khoản mục quan trọng trong Bảng Cân đối và là hoạt động kinh doanh ảnh
hưởng đáng kể đến nguồn vốn cũng như lợi nhuận của Doanh nghiệp. Vì thế
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có hiệu quả hay không cũng ảnh
hưởng tới khoản mục đầu tư dài hạn có được phản ánh trung thực và hợp lý
hay không. Cũng như giai đoạn tìm hiểu và khảo sát khách hàng, các phương
pháp KTV áp dụng khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến
khoản mục đầu tư tài chính dài hạn là:
• Dựa vào kinh nghiệm trước đây của KTV với khách hàng: Hầu hết các
cuộc kiểm toán của một công ty được một công ty thực hiện hàng năm. Do
vậy KTV thường bắt đầu cuộc kiểm toán với một lượng thông tin đáng kể về
hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đã thu thập được từ các cuộc kiểm
toán trước. Vì thế, kiểm soát nội bộ với các khoản đầu tư tài chính dài hạn
thường không thay đổi so với năm trước.
• Thẩm vấn nhân viên của Công ty khách hàng: Đối với khách hàng mới,
KTV có thể sử dụng phương pháp này để nắm bắt khái quát hệ thống kiểm
soát nội bộ của khách hàng. KTV có thể sử dụng phương pháp này để trực tiếp
kiểm tra cách quản lý và kiểm soát các khoản đầu tư dài hạn của khách hàng.
Đối với khách hàng thường niên công việc này giúp KTV cập nhật được
những thay đổi trong hệ thống KSNB của khách hàng, từ đó khoanh vùng
được rủi ro đối với các khoản mục trên BCĐ.
• Xem xét và kiểm tra hệ thống sổ sách kế toán đã hoàn tất của khách
hàng, đối với các khoản đầu tư dài hạn, KTV kiểm tra tổng quát các biên bản
họp của HĐQT hoặc của BGĐ để đánh giá khái quát về hệ thống quản lý cũng
như kiểm soát các khoản mục đầu tư tài chính dài hạn này.
Bước 2: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho
khoản mục đầu tư tài chính dài hạn:
Rủi ro kiểm soát được đánh giá thông qua những hiểu biết về hệ thống
KSNB.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu KTV đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng được vận hành hữu
hiệu thì rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp và ngược lại. Ví dụ như công ty
khách hàng đầu tư vào một công ty liên kết mà qua phỏng vấn khách hàng,
KTV nhận thấy khách hàng am hiểu các chuẩn mực về đầu tư vào công ty liên
kết và phân biệt được với các khoản đầu tư khác, đồng thời khoản đầu tư này
được ghi nhận đầy đủ trong các biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông hoặc
BGĐ thì hệ thống KSNB đối với khoản mục đầu tư vào công ty liên kết vận
hành khá hiệu quả. Từ đó, KTV có thể khoanh vùng rủi ro kiểm soát đối với
khoản đầu tư vào công ty liên kết thấp.
Bước 3: Thực hiện thử nghiệm kiểm soát (thử nghiệm tuân thủ):
Mục đích của thử nghiệm này là thu thập bằng chứng về sự hữu hiệu
của các quy chế và thủ tục kiểm soát để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên
số dư và các nghiệp vụ phát sinh.
Đối với các khoản đầu tư tài chính dài hạn, thử nghiệm kiểm soát được
thực hiện với phương pháp chủ yếu là kiểm tra tài liệu xem các dấu hiệu phê
duyệt đầu tư; hoặc rà soát sơ lược để theo dõi từng bước thực hiện nghiệp vụ
đó trên sổ sách hoặc trong thực tế để đánh giá về kiểm soát đối với nghiệp vụ
này.
Sau khi đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng KTV tiến hành xây
dựng kế hoạch kiểm toán chung cho cuộc kiểm toán và kế hoạch cụ thể đối
với từng khoản mục trên BCĐ, trong đó có lập kế hoạch kiểm toán cho kiểm
toán khoản mục đầu tư tài chính dài hạn.
1.2.2. Lập kế hoạch kiểm toán:
1.2.2.1. Thu thập thông tin cơ sở:
Các chuẩn mực chuyên môn đòi hỏi KTV/ công ty kiểm toán phải có
được những hiểu biết cần thiết và đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh
giá và phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được kiểm toán mà theo KTV có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đến việc
kiểm tra của KTV hoặc đến báo cáo kiểm toán. KTV và các trợ lý kiểm toán
phải luôn xem xét, đánh giá, cập nhật và bổ sung thêm các thông tin mới để
hiểu biết đầy đủ hơn về hoạt động của đơn vị.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV thu thập hiểu biết về
ngành nghề, công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu hệ thống kế toán,
KSNB và các bên hữu quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán cụ
thể. Trong giai đoạn này KTV đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu,
đưa ra đánh giá bước đầu về mức trọng yếu và thực hiện những thủ tục phân
tích để xác định thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán chung và việc quản
lý thời gian đối với từng khoản mục để công việc kiểm toán được thực hiện
theo đúng kế hoạch.
Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng là công
việc khá quan trọng đối với KTV. Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh
của khách hàng giúp cho KTV nhận thức, xác định và đánh giá được mức
trọng yếu của các khoản mục trên BCTC. Những hiểu biết về ngành nghề kinh
doanh bao gồm những hiểu biết chung về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của
đơn vị và sự hiểu biết cụ thể hơn về tổ chức và hoạt động của đơn vị kiểm
toán. Hiểu biết rõ về ngành nghề kinh doanh của khách hàng giúp KTV hiểu
thêm và có những kiến thức cơ bản về nội dung cũng như mục đích đầu tư của
khách hàng nói chung và đầu tư dài hạn nói riêng. Từ đó có thể hiểu được các
sự kiện, các nghiệp vụ và các hoạt động đầu tư tác động đến BCTC của khách
hàng. KTV cũng cần tìm hiểu phương pháp ghi nhận các khoản đầu tư vào
công ty con, công ty liên kết, góp vốn liên doanh theo phương pháp giá gốc
hay phương pháp vốn chủ sở hữu và có được áp dụng nhất quán đối với các
khoản đầu tư hay không.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phương pháp vốn chủ sở hữu: Là phương pháp kế toán mà khoản đầu
tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó được điều chỉnh theo những
thay đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu
tư. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải phản ánh phần sở hữu của nhà
đầu tư trong kết quả kinh doanh của bên nhận đầu tư.
Phương pháp giá gốc: Là phương pháp kế toán mà khoản đầu tư được
ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó không được điều chỉnh theo những thay
đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu tư.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chỉ phản ánh khoản thu nhập của nhà
đầu tư được phân chia từ lợi nhuận thuần luỹ kế của bên nhận đầu tư phát sinh
sau ngày đầu tư.
Xem lại kết quả của cuộc kiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán
chung của khách hàng. Các hồ sơ kiểm toán năm trước thường chứa đựng rất
nhiều thông tin về khách hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các
đặc điểm hoạt động khác và đặc biệt về những biên bản họp hoặc những quyết
định đầu tư của Ban lãnh đạo. Qua đó KTV sẽ tìm thấy những thông tin hữu
ích về công việc kinh doanh của khách hàng, về các khoản đầu tư tài chính của
khách hàng và bước đầu nắm bắt được những khoản đầu tư đó là đầu tư dài
hạn hay ngắn hạn, nội dung cụ thể của những khoản đầu tư đó. Xem lại hồ sơ
kiểm toán chung cũng giúp kiểm toán viên hiểu thêm về điều lệ công ty, quy
trình kế toán, chính sách kế toán … và xác định được các quyết định của nhà
quản lý có phù hợp với luật pháp của Nhà nước, với các chính sách hiện hành
không.
Trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV nên xác định tất cả các bên có liên
quan với khách hàng. Đối với các khoản đầu tư dài hạn, KTV càng nên xác
định đối tượng đầu tư dài hạn của khách hàng, ví dụ khách hàng đầu tư vào
công ty con nào, công ty liên kết nào hoặc góp vốn liên doanh với cơ sở liên
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh đồng kiểm soát nào … để có thể lập kế hoạch thu thập thông tin của các
bên hữu quan đó hoặc bước đầu dự đoán các vấn đề có thể phát sinh giữa các
bên liên quan để có thể hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
Kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn thông thường không cần
tham khảo ý kiến của các chuyên gia, tuy nhiên trong một số trường hợp đặc
biệt, KTV phải sử dụng ý kiến của chuyên gia như một bằng chứng kiểm toán
thu thập được để xác minh các khoản đầu tư dài hạn có được phản ánh trung
thực và hợp lý trên BCĐ hay không và các chuyên gia ở đây thông thường là
các chuyên viên về luật kinh tế, những người hiểu rõ về các thủ tục cần thiết
khi đầu tư vào công ty con hoặc công ty liên kết hoặc góp vốn liên doanh.
1.2.2.2. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng:
Các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp KTV nắm bắt
được quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh
mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trình thu thập các thông tin cơ sở.
Những thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng thường được thu thập
trong quá trình tiếp xúc với BGĐ công ty, bao gồm các loại sau:
• Giấy phép thành lập và điều lệ công ty:
Việc nghiên cứu tài liệu này giúp KTV hiểu được mục tiêu hoạt động và lĩnh
vực kinh doanh hợp pháp của công ty, dựa vào đó xác minh các khoản đầu tư
của công ty có tuân thủ những nội dung trong giấy đăng ký kinh doanh và điều
lệ của Công ty hay không.
• Các BCTC, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra, biên bản các
cuộc họp cổ
đông, HĐQT và BGĐ của năm hiện hành hay trong năm trước:
Dựa vào các báo cáo này, KTV có thể nhận thức được xu hướng phát triển của
khách hàng, xem trong năm hiện tại khách hàng có xu hướng tăng hoặc giảm
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các khoản đầu tư dài hạn, mục tiêu phát triển chiến lược của công ty là gì và
các khoản đầu tư có mang lại lợi nhuận cao cho công ty.
• Các hợp đồng và cam kết quan trọng:
Các hợp đồng và cam kết quan trọng như: Hợp đồng góp vốn liên doanh, hợp
đồng đầu tư vào công ty liên kết hoặc các hợp đồng và cam kết đầu tư khác là
mối quan tâm hàng đầu của cuộc kiểm toán.
1.2.2.3. Thực hiện thủ tục phân tích:
Theo CMKT hiện hành các thủ tục phân tích được áp dụng cho tất cả
các cuộc kiểm toán và chúng thường được thực hiện trong tất cả các giai đoạn
của cuộc kiểm toán. Sau khi thu thập được thông tin cơ sở và thông tin về
nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, KTV tiến hành thực hiện các thủ tục phân
tích đối với các thông tin đã thu thập được để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch.
KTV thường thực hiện thủ tục phân tích ngang đối với khoản mục đầu
tư tài chính dài hạn, thường là so sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước hoặc
giữa các kỳ với nhau. Nhờ đó KTV thấy được những biến động bất thường và
xác định được lĩnh vực cần chú ý.
1.2.2.4. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro:
Sau các bước trên KTV sẽ căn cứ vào các thông tin đã thu thập được để
đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra chiến lược kế hoạch kiểm toán phù hợp. Thêm
vào đó KTV phải đánh giá được tính trọng yếu và rủi ro để xây dựng được kế
hoạch kiểm toán thích hợp.
Trong giai đoạn lập kế hoạch KTV phải đánh giá mức độ trọng yếu của
các khoản mục để ước tính mức độ sai sót của BCTC có thể chấp nhận được.
Thông thường các sai phạm về khoản mục đầu tư tài chính dài hạn thường ảnh
hưởng nghiêm trọng đến các BCTC của khách hàng.
Vì đầu tư tài chính dài hạn thường là một khoản mục quan trọng trong
BCTC nên rủi ro về khoản mục này thường không cao, rủi ro sai sót ở khoản
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét