Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ như về mặt hình
thức, góc độ quản lý, kế hoạch hóa hay xem xét về mặt nội dung thì
có những khái niệm khác nhau ứng với mỗi góc độ đó :
- Là tập hợp các hoạt động nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định,
trong quá trình thực hiện mục tiêu đó cần có các đầu vào và kết quả
thu được là các đầu ra.
- Là một lĩnh vực haotj động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải
được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một
kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
- Dự án là những nỗ lực có hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc một
dịch vụ nhất định
Ở Việt Nam, khái niệm về dự án được thể hiện ở các văn bản pháp
quy. Nghị định 52/1999/NĐ-CP đã xác định : “ Dự án đầu tư” là tập
hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng
hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng
trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến,nâng cao chất lượng sản
phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định.
2. Chu kỳ của dự án :
Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự
án phải trải qua, bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án
được hoàn thành cà chấm dứt hoạt động.
Ta có thể minh hoạ chu kỳ của dự án theo sơ đồ sau đây:
* Giai đoạn chuẩn bị đầu tư :
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư
- Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước
để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm
nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về
nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư.
- Tiến hành điều tra, khảo sát, và chọn địa điểm xây dựng
- Lập dự án đầu tư
- Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình người có thẩm quyền quyết định
đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu
tư.
* Giai đoạn thực hiện đầu tư:
- Xin giao hoặc thuê đất (đối với dự án sử dụng đất)
- Xin giấy phép xây dựng(nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng )
và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên)
ý đồ về
dự án
đầu tu
Chuẩn bị
đầu tư
Thực hiện
đầu tư.
Sản xuất
kinh
doanh
ý đồ về
dự án
mới
Hình 1.1: Chu kì của dự án đầu tư.
- Thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái
định cư và phục hồi, chuẩn bị mặt bằng xây dựng
- Mua sắm thiết bị và công nghệ
- Thực hiện việc khảo sát, thiết kế xây dựng
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình.
- Tiến hành thi công xây lắp
- Kiểm tra và thực hiện hợp đồng
- Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng
- Vận hành thử, nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư, bàn giao và thực
hiện bảo hành sản phẩm.
* Giai đoạn kết thúc đầu tư :
- Nghiệm thu bàn giao công trình
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình
- Bảo hành công trình
- Quyết toán vốn đầu tư
- Phê duyệt quyết toán
- Hoàn trả vốn đầu tư
Quá trình nghiên cứu, soạn thảo một dự án đầu tư được thực hiện
theo từng giai đoạn rất cẩn thận nhưng không thể tránh khỏi những
sai sót nhất định. Do đó, chúng ta cần phải có một quy trình đánh giá
rủi ro trước khi cho vay vốn dự án thích hợp nhằm phát hiện ra
những sai sót để có biện pháp khắc phục, đảm bảo tính khả thi của
dự án.
2. Các nguồn vốn cho dự án :
2.1. Nguồn vốn trong nước
* Nguồn vốn nhà nước :
- Vốn ngân sách : Được hình thành từ nguồn thu thuế và
nguồn thu khác cộng với tiết kiệm chi cho ngân sách. Đây là nguồn
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho các đơn vị hoạt động đầu tư trong
nước. Nguồn này hiện nay chủ yếu được tập trung cho đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xó hội, đầu tư phát triển một số công
trình then chốt. Bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh
trong nền kinh tế.
Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư. Đó là
một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lựơc phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho
các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho
các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của
Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô
thị và nông thôn.
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá
trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác
dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của
Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đợn vị sử dụng nguồn vốn này
phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đàu tư là người vay
vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển
từ hình thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với
các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
- Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước: Được xác định là
thành phần chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước
vẫn nắm giữ một khối lượng vốn khá lớn. Mặc dù vẫn còn một số
hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực thì khu vực
kinh tế Nhà nước với sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước
vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với
chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt
động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ
của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp
đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội.
* Nguồn vốn từ khu vực tư nhân.
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân
cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã.
Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu
một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà cuă được huy động triệt để.
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không
nhỏ trong dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng
hay do tích luỹ tryuền thống. Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng
trong dân cư không phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền
mặt ,nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của
toàn bộ hệ thống ngân hàng. Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập
và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy mô của các nguồn tiết kiệm này
phụ thuộc vào:
- Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát
triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp).
+ Tập quán tiêu dùng của dân cư.
+ Chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế
thu nhập và các khoản đóng góp với xã hội.
2.1. Nguồn vốn nước ngoài.
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài trên phạm vi rộng
hơn đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế (international capital flows).
Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình
chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới.
Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển
đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ
ba đặc biệt quan tâm. Dòng vốn này diễn ra với nhiều hình thức. Mỗi
hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, không
hoàn toàn giống nhau. Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân
loại các nguồn vốn nước ngòai chính như sau:
- Tài trợ phát triển vốn chính thức (ODF - official development
finance). Nguồn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức (ODA -
offical development assistance) và các hình thức viện trợ khác.
Trong đó, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF;
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại;
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài;
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế.
* Nguồn vốn ODA.
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính
phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát
triển. So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao
hơn bất cứ nguồn vốn ODF nào khác. Ngoài các điều kiện ưu đãi về
lãi suất, thời hạn cho vay tương đối lớn, bao giờ trong ODA cũng có
yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%.
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này
thường di kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính
hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…). Vì
vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần
phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể. Nếu không
việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho
nền kinh tế. Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về
nội dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có
thể nhận vốn, vừa bảo tồn được những mục tiêu có tính nguyên tắc.
* Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại.
Điều kiện ưu đẫi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối
với nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là
không có gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ
tục vay đối với nguồn vốn này thường là tương đối khắt khe, thời
gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không
nhỏ đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận
trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của thị
trường thế giới và xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng
của các ngân hàng thương mại thường được sử dụng chủ yếu để đáp
ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là ngắn hạn. Một bộ phận của
nguồn vốn này có thể được dùng để đầu tư phát triển. Tỷ trọng của
nó có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu
dài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là sáng sủa.
* Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác
nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không
phát sinh nợ cho nước tiếp nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu
tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu
tư hoạt động có hiệu quả. Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo
toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên có thể thúc
đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao
về trình độ kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế nguồn vốn
này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước
nhận đầu tư .
* Thị trường vốn quốc tế.
Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các
thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ
đa dạng vế các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng
vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu. Ngay tại nhiều nước đang
phát triển, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán cũng gia
tăng mạnh mẽ. Mặc dù vào nửa cuối những năm 1990, có sự xuất
hiện của một số cuộc khủng hoảng tài chính nhưng đến cuối năm
1999 khối lượng giao dịch chứng khoán tại các thị trường mới nổi
vẫn đáng kể. Riêng năm 1999, dòng vốn đầu tư dưới dạng cổ phiếu
vào Châu á đã tăng gấp 3 lần năm 1998, đạt 15 tỷ USD.
Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứ đọng
vốn, nên các nguồn tài trợ cần được xem xét không chỉ về mặt số
lượng mà về cả thời điểm nhận được tài trợ.
Phải so sánh nhu cầu về vốn với khả năng đảm bảo vốn cho dự án từ
các nguồn về số lượng và tiến độ thông qua lập bảng cân đối vốn đầu
tư.
III. Đặc điểm và vai trò của tín dụng đầu tư phát triển
với nền kinh tế:
1. Khái niệm :
Tín dụng đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng vốn tín dụng nhằm
tiến hành các hoạt động tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
các cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm duy trì các tiềm lực sẵn có, làm
tăng tài sản mới và năng lực sản xuất mới cho các cơ sở sản xuất
kinh doanh nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Đối với các doanh nghiệp khi nguồn vốn tự có hay vốn huy động
không đủ tài trợ cho việc triển khai dự án thì họ sẽ sử dụng vốn tín
dụng Ngân hàng. Vốn này được huy động qua các trung gian tàì
chính là hệ thống Ngân hàng và các tổ chức tín dingj sản xuất kinh
doanh. Các doanh nghiệp khi vay vốn tín dụng Ngân hàng để triển
khai các dự án đầu tư của mình, trong quá trình vận hành phát huy
tác dụng cần thu hồi đủ vốn để hoàn trả vốn đầu tư ban đầu và đem
lại lợi ích cho chủ đầu tư.
2. Đặc điểm của tín dụng ĐTPT :
- Tín dụng đầu tư phát triển có sự tham gia của các Ngân hàng vào dự
án đầu tư. Điều này thể hiện ở chỗ khi doanh nghiệp muốn vay vốn
tín dụng để đầu tư họ phải có dự án và dự án đó được Ngân hàng
thẩm định trước khi cho vay. Khác với hoạt động đầu tư bằng vốn tự
có, doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả dự án,
thì tín dụng đầu tư phát triển có sự chịu trách nhiệm về hiệu quả của
dự án. Ngân hàng giám sát, đánh giá từ khi trình hồ sơ xin vay vốn,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét