Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Nghiên cứu về FDI (Foreign Direct Investment)

Hình thức này được áp dụng phổ biến hơn, nhưng có xu hướng bớt dần về tỉ
trọng . Các nhà đầu tư nước ngoài thích áp dụng hình thức liên doanh vì :
-Thấy được ưu thế giữa hình thức xí nghiệp liên doanh so với hình thức xí
nghiệp 100% vốn nước ngoài là tranh thủ được sự hiểu biết và hỗ trợ của các đối
tác trong tất cả các khâu hình thành, thẩm định và thưc hiện dự án.
-Phạm vi, lĩnh vực và địa bàn hoạt động của xí nghiệp liên doanh rộng
hơn xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên có thể giải thích xu hướng hạn chế dần hình thức xí nghiệp liên
doanh ở Việt Nam bằng những nguyên nhân sau :
+Sau một thời gian tiếp cận với thị trường Việt Nam , các nhà đầu tư nước
ngoài, đặc biệt các nhà đầu tư Châu Á đã hiểu rõ hơn về luật pháp, chính
sách và thủ tục đầu tư tại Việt Nam .
+Thực tiễn phát sinh nhiều tranh chấp trong việc quản lý điều hành mà một
phần do sự yếu kém về trình độ của người Việt Nam. Bên nước ngoài thường góp
vốn nhiều hơn nhưng không quyết định những vấn đề chủ chốt của xí nghiệp vì
nguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị.
+Khả năng tham gia liên doanh của bên Việt Nam là có hạn vì thiếu cán
bộ, thiếu vốn đóng góp .
+ Nhiều trường hợp cơ quan quản lý nhà nước đã tác động quá sâu vào
quá trình sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp
b) Xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Đầu tư nước ngoài theo hình thức này ngày càng tăng. Nguyên nhân giảm sút
tỉ trọng xí nghiệp liên doanh cũng chính là nguyên nhân tăng tỉ lệ các xí nghiệp
100% vốn nước ngoài. Uỷ ban nhà nước về hợp tác và đầu tư trước đây đã từ chối
cấp giấy phép cho nhiều dự án 100% vốn nước ngoài trong những ngành, lĩnh vực
quan trọng hoặc có tính đặc thù như : Bưu chính viễn thông, xây dựng kinh doanh
khách sạn, văn phòng cho thuê, sản xuất xi măng, dịch vụ xuất nhập khẩu, du
lịch…Tuy nhiên trong những năm gần đây, các địa phương phía Nam, đặc biệt là
các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé, Bà Rịa - Vũng Tàu đã ủng hộ mạnh các dự án 100%
vốn nước ngoài với lập luận rằng cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê đất lập xí
nghiệp 100% vốn nước ngoài có lợi hơn việc giao đất cho bên Việt Nam góp vốn
bằng giá trị quyền sử dụng đất để tham gia liên doanh
c) Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Hình thức này được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực thăm dò khai thác dầu
khí và trong lĩnh vực bưu chính viễn thông .Hai lĩnh vực này chiếm 30% số dự án
hợp đồng hợp tác kinh doanh , nhưng chiếm tới 90% tổng vốn cam kết thưc hiện.
Phần còn lại chủ yếu thuộc về lĩnh vực công nghiệp, gia công, dịch vụ
d) Các hình thức đầu tư và phương thức tổ chức thu hút đầu tư khác .
- Công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài :
- 5 -
Đây là hình thức tổ chức khá phổ biến trên thế giới. Theo quan điểm của các
nhà đầu tư nước ngoài, so với các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần có lợi thế trong việc huy động vốn ngay từ đầu của doanh nghiệp.
- Cổ phần hoá các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc chuyển nhượng
phần góp vốn trong xí nghiệp liên doanh phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền . Xí nghiệp liên doanh không được phép huy động vốn bằng
cách phát hành cổ phiếu hoặc bán lại chứng khoán. Vì vậy, một số nhà đầu tư nước
ngoài cho rằng quy định của Luật hiện hành là “cứng” và đề nghị cho cổ phần hoá
xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài .
- Chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam .
Luật đầu tư hiện hành không có quy định về hình thức chi nhánh công ty nước
ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên trong những năm qua, một số ngân hàng nước ngoài,
các công ty tài chính, thương mại quốc tế đã làm đơn xin mở chi nhánh tại Việt
Nam.
- Phương thức đổi đất lấy công trình.
Nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn xây dựng một hoặc một số dự án cơ sở hạ tầng
như cầu, đường, hoặc khu phố mới theo phương thức chìa khoá trao tay hoặc Bt
(xây dựng – chuyển giao). Đổi lại, Nhà nước Việt Nam sẽ dành cho nhà đầu tư
nước ngoài quyền sử dụng một diện tích đất trong một thời gian xác định để xây
dựng, kinh doanh hoặc một số dự án cụ thể.
- Hình thức thuê mua
Một số xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là xí nghiệp 100% vốn
của các công ty Nhật Bản đề nghị được thuê mua hoặc thuê miễn phí máy móc thiết
bị. Vì đây là vấn đề mới và máy móc thiết bị vẫn thuộc sở hữu của xí nghiệp tại
Việt Nam nên Bộ Thương mại đã không chấp nhận đề nghị miễn thuế nhập khẩu
đối với máy móc thiết bị .
3. Phân loại FDI.
3.1 Phân theo bản chất đầu tư

a) Đầu tư phương tiện hoạt động:
Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư
mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình
thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào.

b). Mua lại và sáp nhập:
Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có
vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể
đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có
vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối
lượng đầu tư vào
3.2. Phân theo tính chất dòng vốn
- 6 -

a) Vốn chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do
một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các
quyết định quản lý của công ty.

b) Vốn tái đầu tư
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh
doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.

c) Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ
Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho
nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.

3.3. Phân theo động cơ của nhà đầu tư

a) Vốn tìm kiếm tài nguyên
Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi
dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá
thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm
mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm
du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp
nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến
lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.

b) Vốn tìm kiếm hiệu quả
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước
tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện
nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ,
thuế suất ưu đãi, v.v

c) Vốn tìm kiếm thị trường
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị
đối thủ cạnh tranh dành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các
hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy
nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.
4. Đặc điểm chủ yếu của FDI
Đến nay xét về bản chất, FDI có những đặc điểm chủ yếu:
* FDI trở thành hình thức đầu tư chủ yếu trong đầu tư nước ngoài.
Xét về ưu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về chất
lượng trong nền kinh té thế giới. Gắn trực tiếp với quá trình sản xuất trực tiếp, tham
- 7 -
gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở của sự hoạt
động của các công ty xuyên quốc gia và các doanh nghiệp xuyên
quốc tế
* FDI đang và sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển.
Có nhiều lý do giải thích mức độ đầu tư cao giữa các nước công nghiệp phát
triển với nhau nhưng có thể thấy được hai nguyên nhân chủ yếu sau:
-Thứ nhất, môi trường đầu tư ở các nước phát triển có độ tương hợp cao.
Môi trường này hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả môi trường công nghệ và môi
trường pháp lý.
-Thứ hai, xu hướng khu vực hoá đã thúc đẩy các nước này xâm nhập thị
trường của nhau.
Từ hai lý do đó ta có thể giải thích được xu hướng tăng lên của FDI ở
các công nghiệp mới (NICs), các nứơc ASEAN và TrungQuốc.
Ngoài ra xu hướng tự do hoá và mở cửa của nền kinh tế các nước đang phát
triển trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể vào sự thay đổi đáng kể dòng
chảy FDI.
* C ơ cấu và phương thức FDI trở nên đa dạng hơn.
Trong những năm gần đây cơ cấu và phương thức đầu tư nước ngoài trở
nên đa dạng hơn so với trước đây. Điều này liên quan đến sự hình thành hệ thống
phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng và sự thay đổi môi trường kinh
tế thương mại toàn cầu.
Về cơ cấu FDI, đặc biệt là FDI vào các nước công nghiệp phát triển có
những thay đổi sau:
- Vai trò và tỉ trọng của đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học cao
tăng lên. Hơn 1/3 FDI tăng lên hàng năm là tập trung vào các ngành then chốt
như điện tử, chế tạo máy tính, chất dẻo, hoá chất và chế tạo máy. Trong khi đó
nhiều ngành công nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và lao động, FDI giảm tuyệt
đối hoặc không đầu tư .
* Sự gắn bó ngày càng chặt chẽ gi ữa FDI và ODA, th ương mại và chuyển
giao công nghệ.
-FDI và thương mại có liên quan rất chặt chẽ với nhau. Thông thường, một
chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm vào mục đích tăng tiềm
năng xuất khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty nước ngoài được lựa chọn
ngành và địa điểm đầu tư cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh tranh của sản
phẩm trên trường quốc tế
- FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công nghệ.
Xu hướng hiệnu nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn bó
chặt chẽ với nhau. Đây chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự lưu chuyển
vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế.
Nhiều nước đã đạt được thành công trong việc hấp thụ các yếu tố bên ngoài để
phát triển kinh tế trong nước là nhờ chú ý đến điều này. Hồng Kông, Singapore và
Đài Loan rất tích cực khuyến khích các công ty xuyên quốc gia chuyển giao công
nghệ cùng với quá trình đầu tư.
- 8 -
- Sự gắn bó giữa FDI và ODA cũng là một đặc điểm nổi bật của sự lưu chuyển
các nguồn vốn, công nghệ trên phạm vi quốc tế trong những năm gần đây. Hơn nữa
xu hướng này sẽ ngày càng trở nên mạnh hơn .
5. Vai trò của FDI với phát triển kinh tế.
Mặc dù FDI vẫn chịu chi phối của Chính Phủ nhưng FDI ít lệ thuộc vào mối
quan hệ chính trị giữa hai bên. Mặt khác bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý
sản xuất, kinhh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt là trong việc
tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu. Do quyền lợi gắn chặt với dự án,
họ quan tâm tới hiệu quả kinh doạnh nên có thể lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng
cao trình độ quản lý và tay nghề của công nhân. Vì vậy, FDI ngày càng có vai trò to
lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các đầu tư và các nước nhận
đầu tư .
- Đối với nước đầu tư :
Đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở
các nước tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của
vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải
chăng. Mặt khác đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng
cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu
thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được
hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.
- Đối với nước nhận đầu tư:
+ Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải
quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp và lạm phát…Qua FDI các
tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những công ty doanh nghiệp có nguy cơ phá sản,
giúp cải thiện tình hình thanh toán và tạo công ăn việc làm cho người lao động. FDI
còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình
hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế
và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý
của các nước khác.
+ Đối với các nước đang phát triển:
- Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng giải quyết có hiệu quả
những khó khăn về vốn cho công nghiệp hoá. Đối với các nước nghèo, vốn đuợc
xem là yếu tố cơ bản, là điều kiện khởi đầu quan trọng để thoát khỏi đói nghèo và
phát triển kinh tế. Thế nhưng, đã là nước nghèo thì khả năng tích luỹ vốn hay huy
động vốn trong nước để tập trung cho các mục tiêu cần ưu tiên là rất khó khăn, thị
trường vốn trong nước lại chưa phát triển. Trong điều kiện của thời kỳ đầu tiến
hành công nghiệp hoá, nhìn chung các nước đang phát triển đều gặp rất nhiều khó
khăn: mức sống thấp, khẳ năng tích luỹ thấp, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, công
nghệ kỹ thuật chưa phát triển, mức đầu tư thấp nên kém hiệu quả, ít có điều kiện để
xâm nhập, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, thiếu khả năng tiếp cận với khoa học kỹ
thuật tiên tiến của thế giới…
- 9 -
Giải pháp của các nước đang phát triển lúc này là tìm đến với các nguồn đầu
tư quốc tế. Nhưng trong số các nguồn đầu tư quốc tế thì vốn viện trợ tuy có được
một số vốn ưu đãi nhưng lại đi kèm với một số ràng buộc về chính trị, xã hội, thậm
chí cả về quân sự. Còn vốn vay thì thủ tục vừa khắt khe mà lại phải chịu lãi xuất
cao. Nguồn vốn đuợc đánh giá có hiệu quả nhất đối với giai đoạn đầu tiến hành
công nghiệp hoá của các nước đang phát triển là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư cũng đồng thời họ hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu
quả của đồng vốn mà mình bỏ ra, do đó truớc khi đầu tư thì họ buộc phải tính toán
kỹ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện dự án .Hay nói cách khác,các nhà đầu
tư chỉ xin phép và triển khai dự án khi họ tính toán thấy độ rủi ro ít và khả năng thu
lợi cao. Đây là ưu thế hơn hẳn của loại vốn đầu tư trực tiếp so với các loại vốn vay
khác.
-Thứ hai, một đặc điểm tương đối phổ biến ở các nước đang phát triển là sự
lạc hậu và thiếu thốn công nghệ và kỹ thuật. Thông qua các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp nhận được những kỹ thuật mới,
những công nghệ tiên tiến, góp phấn cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng, phát triển công
nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung. Đồng thời, tạo ra các điều kiện
kinh tế kỹ thuật cho việc thực hiện cuộc cải biến cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ
trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.
-Thứ ba, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể thu hút một lượng lớn
lao động trực tiếp và tạo ra nhiều việc làm cho các dịch vụ tương ứng. Thông qua
việc thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể làm đội ngũ cán bộ của
nước nhận đầu tư qua việc tham gia vào hoạt động của liên doanh mà trưởng thành
hơn về năng lực quản lý phù hợp với nền sản xuất hiện đại; hình thành một lực
lượng công nhân kỹ thuật lành nghề; tăng nguồn thu cho ngân sách…
-Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài có các điều kiện cần thiết cho việc tạo lập
một hệ thống thị trường phù hợp với yêu cầu của một nền sản xuất công nghiệp hoá,
tiếp cận và mở rộng được thị trường mới, tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế…
Hình hành được các khu chế xuất, khu công nghiêp chủ lực; tạo ra các điều kiện cơ
bản cho tiến trình công nghiệp hoá.
III/ KẾT QUẢ THU HÚT VỐN FDI Ở VIỆT NAM .
1. Sự phát triển của FDI ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
1.1. Sự cần thiết phải thu hút FDI ở nước ta
- Thông qua đầu tư nước ngoài, nhất là FDI, chúng ta tiếp nhận thành tựu phát
triển khoa học- kĩ thuật tiên tiến của thế giới, nhờ đó rút ngắn khoảng cách của ta so
với thế giới.
- Nhờ có FDI, chúng ta sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà
nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ, khoáng sản

- 10 -
- Ngoài ra, trong quá trình tiếp nhận FDI chúng ta học được kinh nghiệm quản
lý kinh doanh và cách làm thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường của các
nước tiên tiến.
=>Tóm lại, FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta nhanh chóng hội
nhập với sự phát triển của thế giới và khu vực.
1.2. Tác động của FDI đến sự phát triển kinh tế Việt Nam những năm qua.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Theo tính toán của bộ kế hoạch và đầu tư, FDI đã đóng góp quan trọng vào tốc độ
tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh tốc độ gia tăng xuất khẩu, đóng góp cho ngân sách
quốc gia. Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, đội ngũ lao động được thu hút vào
làm việc có thu nhập cao hơn với các khu vực khác, hơn nữa, lại từng bước được
nâng cao tay nghề, đội ngũ cán bộ quản lý được nâng cao kiến thức cũng như kinh
nghiệm quản lý.
-Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực chuyển dịch vụ cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển lực lượng sản xuất. Thông qua đầu
tư nước ngoài bước đầu đã hình thành hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Đầu tư nước ngoài cũng đã đem đến những mô hình quản lý tiên tiến, phương thức
kinh doanh hiện đại trong các ngành, các đơn vị kinh tế.
- Đầu tư nước ngoài đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.
Mặc dù vẫn còn có những hạn chế của đầu tư nước ngoài như : nhập công
nghệ cũ, lạc hậu, hiện tượng chuyể giá, trốn lậu thếu,ô nhiễm môi trường… nhưng
không thể phủ định những tác độn tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt
Nam.
1.3. Thực trạng thu hút FDI ở Việt Nam
a) Các hình thức thu hút FDI.
Hiện nay FDI vào Viêt Nam được thực hiện qua các hình thức đầu tư sau
đây:
- Doanh nghiệp liên doanh
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Các phương thức đầu tư BOT, BTO, BT.
b) Phân bổ các dự án FDI vào các khu chế xuất và khu công nghiệp
Để phát triển công nghiệp có hiệu quả, các chính phủ đều khuyến khích các
nhà đầu tư vào các khu công nghiệp. Có thể chia khu công nghiệp thành 3 loại:
- Khu công nhiệp thông thường: là khu tập trung các doanh nghiệp công
nghiệp chuyên sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư
sinh sống do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập.
- Khu chế xuất: là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chuyên sản
xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt
- 11 -
động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do chính
phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập.
- Khu công nghệ cao: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp có kỹ
thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên
cứu - triển khai khoa học công nghệ - đào tạo các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa
lý xác định do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập.
c) Các chính sách thu hút FDI ở Việt Nam thời gian qua
Mục tiêu của chính sách thu hút FDI của Việt Nam là thu hút vốn, công nghệ,
kinh nghiệm quản lý của nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khai thác có
hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tạo việc làm cho người lao động và mở rộng xuất
khẩu. Hoạt động thu hút FDI liên quan chặt chẽ đến quá trình chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, rõ ràng, thông thoáng, bình đẳng và có
khả năng cạnh tranh với các nước khác trong khu vực.Thời gian qua, chính sách thu
hút FDI đã được điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện dần từng bước một cách có hệ
thống.
 Chính sách đất đai
Mục tiêu của chính sách đất đai là tạo điều kiện thuận lợi và hấp dẫn các nhà
đầu tư nước ngoài, bảo đảm cho các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng đầu tư lâu dài
ở Việt Nam
Đặc điểm đặc thù ở Vịêt Nam đó là: đất đai là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu
toàn dân. Các nhà đầu tư nước ngoài không có quyền sở hữu về đất đai. Các loại
văn bản pháp lý liên quan đến đất đai gắn với hoạt động đầu tư trực tiếp nứơc ngoài
là: Luật đất đai, Luật đầu tư nước ngoài tại Vịêt Nam.
Mức tiền thuê đất được xác định tuỳ thuộc vào:
+ Mức quy định khởi điểm của từng vùng
+ Địa điểm của khu đất
+ Kết cấu hạ tầng của khu đất
+ Hệ số ngành nghề
 Chính sách lao động.
Chính sách lao động có mục tiêu giải quyết việc làm, nâng cao tay nghề, kỹ
năng cho người lao động, nâng cao trình độ quản lý và cải thiện thu nhập cho người
lao động.
Trong thời gian qua số lượng người lao động làm việc trong các dự án có vốn
đầu tư nước ngoài khoảng 28 vạn người. Số lao động của Việt Nam làm việc trong
các dự án có vốn đầu tư nước ngoài phần lớn là lao động trẻ, có khả năng thích ứng
nhanh với yêu cầu công nghệ sản xuất tiên tiến nhưng hạn chế lớn về thể lực, kinh
nghiệm và tay nghề. Một số lao động xuất thân từ nông thôn do đó kỷ luật chưa cao.
Sự hiểu biết về pháp luật của người lao động còn hạn chế. Nhiều người lao động trẻ
tuổi thường không chấp nhận sự đối xử thô bạo của giới chủ. Đây là mầm mống
của những phản ứng lao động tập thể.
Nguyên nhân dẫn tới các vụ tranh chấp đó là:
- Đối với người sử dụng lao động:
+ Nhiều giám đốc doanh nghiệp kể cả người được uỷ quyền điều hành
- 12 -
không nắm vững những qui định của pháp luật lao động hoặc cố tình không tuân
thủ những qui định của pháp luật như kéo dài thời gian làm việc trong ngày…
+ Trù dập người lao động khi họ đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng, chấm
dứt hợp đồng tuỳ tiện hoặc sa thải người lao động trở lên căng thẳng.
+ Vi phạm các qui định về điều kiện làm việc điều kiện lao động và các tiêu
chuẩn và quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động có nguy cơ gây tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp…
+Một số cán bộ giúp việc cho các chủ doanh nghiệp nước ngoài nắm các quy
định của pháp luật không vững nên nhiều trường hợp dẫn đến những vi phạm pháp
luật.
- Về phía ng ười lao động:
+ Phần đông thiếu sự hiểu biết về các qui định của pháp luật lao động, chưa
nắm vững các chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của mình để tiến hành ký hộp đồng
còn mang tính hình thức, bị thiệt thòi, bị áp đặt dẫn đến mâu thuẫn phát sinh tranh
chấp.
+ Một số người lao động đòi hỏi vượt quá qui định pháp luật và do sự hạn chế
về ngoại ngữ nên có những bất đồng do không hiểu nhau dẫn đến mâu thuẫn.
Tuy nhiên chính sách lao động còn những hạn chế. Mặc dù đã giải quyết được
công ăn việc làm cho một lực lượng lao động nhất định, song mục tiêu nâng cao tay
nghề cho công nhân, nâng cao trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn
chế.
d) Chính sách công nghệ.
Mục tiêu của chính sách công nghệ là thu hút công nghệ, máy móc, thiết bị
hiện đại của nước ngoài để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hóa
đất nước, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề, thực hiện nội địa
hoá công nghệ để tăng năng lực nội sinh của công nghệ. Điều này được khẳng định
trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là thu hút công nghệ hiện đại để đầu tư
theo chiều sâu vào các cơ sở kinh tế hiện có hoặc thu hút công nghệ cao để sản xuất
hàng xuất khẩu.
Qua thẩm định các dự án cho thấy, nhiều dự án phát huy tác dụng tốt trong
chuyển giao công nghệ tiên tiến, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác dầu khí, viễn
thông, các nghành cơ khí nông nghiệp, máy móc công cụ, máy phục vụ nghành
công nghiệp nhẹ…
Tuy nhiên, công nghệ tiên tiến nhập vào chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu
cầu cần thiết cả về số lượng, lẫn qui mô,chưa cân đối giữa các ngành kinh tế, nhất là
ở một số ngành then chốt có tác dụng tạo môi trường công nghệ cho công nghiệp
như cơ khí, năng lượng, hoá chất, giao thông… cũng như giữa các vùng.
Mức độ hiện đại và tinh vi của chính bản thân công nghệ còn thấp. Trừ một số
ít dây chuyền công nghệ nhập vào tương đối hiện đại, còn lại phần lớn ở trình độ
thấp so với các nước trong khu vực, thậm chí có cả công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ
kỹ, gây ô nhiễm môi trường sau đó phải xử lý. Ngoài ra, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng
hoá, bí quyết công nghệ còn kém.
- 13 -
1.4. Kết quả thu hút vốn FDI trong thời gian qua.
• Trong lĩnh vực nông nghiệp.
a) Thứ nhất, chiếm tỷ trọng rất nhỏ về số lượng dự án và vốn đầu tư trong
tổng FDI trong nền kinh tế.
Trong giai đoạn 1990-2009 tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam được cấp phép là 12.575 dự án với số vốn đăng ký 194.429,5 triệu USD.
Trong đó số dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp là 738 dự án, chiếm 5,9% tổng
số dự án đăng ký, với số vốn đăng ký là 4.379,1 triệu USD, chiếm 2,3% tổng số vốn
đăng ký.(2) Riêng năm 2009 có 1.208 dự án được cấp phép đầu tư với tổng số vốn
đăng ký là 23.107,7 triệu USD; trong đó số dự án đăng ký đầu tư vào lĩnh vực nông
nghiệp là 29 dự án, chiếm 2,4% tổng số dự án với số vốn là 134,5 triệu USD, chiếm
0,6% tổng vốn đăng ký, không có dự án quy mô lớn.
Bảng 1: Đầu tư đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép trong năm
2009 phân theo ngành kinh tế
Lĩnh vực Số dự án Tỷ lệ (%) Vốn đăng ký
(triệu USD)
Tỷ lệ (%)
Tổng 1208 100 23107,3 100
Nông lâm
nghiệp, thủy sản
29 2,4 134,5 0,6
Công nghiệp-xây
dựng
550 45,5 5175,7 22,4
Dịch vụ-Thương
mại
629 52,1 17797,1 77
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2010
b) Thứ hai, phân bổ không đồng đều trong nông nghiệp
Các dự án FDI chỉ tập trung vào một số ngành như: chăn nuôi, chế biến thức
ăn chăn nuôi, trồng rừng, chế biến gỗ và lâm sản, thủy sản. Trong đó, đầu tư vào
trồng rừng và chế biến gỗ chiếm khoảng 78% tổng vốn FDI vào nông nghiệp. Cả
nước có 453 dự án FDI đầu tư vào trồng rừng và chế biến gỗ đã được cấp phép với
tổng số vốn đăng ký khoảng 1,7 tỷ USD, trong có 421 dự án đang có hiệu lực với
tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1,38 tỷ USD, nhưng vốn thực hiện chỉ đạt 359
triệu USD.
c) Thứ ba, phân bổ không đồng đều theo địa phương
Hầu hết các dự án FDI vào nông nghiệp tập trung vào những tỉnh có lợi thế về
vùng nguyên liệu, có điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, khí hậu, cơ chế chính sách
ưu đãi về đầu tư như: Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh,
Lâm Đồng Thanh Hóa, Nghệ An, một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên.
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét