FCA : giao cho ngời chuyên chở
FAS : giao dọc mạn tàu
FOB : giao lên tàu
CFR : tiền hàng và cớcphí
CIF : tiền hàng , bảo hiểm và cớc phí
CPT : cớcphí trả tới
CIP : cớc phí và phí bảo hiểm trả tới
DAF : giao tại biên giới
DES : giao tại tàu
DEQ: giao tại cầu cảng
DDU: giao tại đích cha nộp thuế
DDP: giao tại đích đã nộp thuế
Với mỗi điều kiện cơ sở giao hàng là một điều kiện về giá. Tuy nhiên do
điều kiện kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thơng của chúng ta nên trong quá
trình xuất nhập khẩu chúng ta thờng sử dụng các loại giá:
Giá FOB: giá giao tính đến khi hàng đợc xếp lên phơng tiện vận chuyển tại
cảng xuất. Theo điều kiện giá này ngời mua phải chịu trách nhiệm thuê tàu, chịu
chi phí vận chuyển, bảo hiểm, mọi rủi ro từ khi hàng đã qua khỏi lan can tàu đi ở
cảng. Ngời bán có trách nhiệm giao hàng lên tàu do ngời mua chỉ định, thông báo
cho ngời mua, cung cấp các chứng từ cần thiết. Đây là điều kiện mà các công ty
xuất nhập khẩu Việt Nam thờng sử dụng khi xuất khẩu hàng hóa.
Giá CIF: bao gồm giá FOB + chi phí bảo hiểm + cớc phí vận tải. Theo điều
kiện này bên bán phải thuê tàu, mua bảo hiểm cho hàng hóa ở mức tối thiểu, chịu
mọi rủi ro về hàng hóa đến biên giới hải quan của nớc nhập khẩu trớc khi đóng bất
kì loại thuế nhập khẩu hay thuế khác đánh vào hàng nhập khẩu. Rủi ro về hàng
5
hóa chuyển ngay cho ngời mua sau khi hàng đã vợt qua lan can tàu ở cảng bốc
hàng
Giá CFR: bao gồm tiền hàng và cớc phí vận chuyển. Giá CFR khác giá CIF
là ngời bán không phải chịu chi phí bảo hiểm cho hàng hóa
Giá DAF: giá hàng giao tại biên giới đối với mọi loại hình vận tải. Điều kiện
DAF thờng áp dụng trong buôn bán mậu dịch giữa các nớc có chung đờng biên
giới
Hiện nay ở Việt Nam thờng áp dụng xuất FOB, nhập CIF. Đây là những điều
kiện không tạo điều kiện cho ngành vận tải biển và ngành bảo hiểm của chúng ta
phát triển.
1.2.2 Các phơng thức kinh doanh nhập khẩu
Hiện nay đối với hoạt động nhập khẩu có hai phơng thức cơ bản đó là nhập
khẩu theo nghị định th và nhập khẩu ngoài nghị định th.
* Nhập khẩu theo nghị định th : là phơng thức mà các doanh nghiệp phải
tuân theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nớc thực hiện các hợp đồng kinh tế bằng văn
bản. Chính phủ Việt Nam sau khi ký nghị định th hay hiệp định th với các nớc
khác để nhập khẩu hàng hoá sẽ giao cho các doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp thực
hiện. Việc thanh toán cho hợp đồng nhập khẩu theo phơng thức này do Nhà nớc
đứng ra trả tiền hoặc cam kết trả tiền hoặc uỷ nhiệm cho doanh nghiệp thanh toán .
Đối với ngoại tệ thu đợc khi tiêu thụ hàng nhập khẩu doanh nghiệp phải nộp
vào quỹ ngoại tệ tập trung của Nhà nớc thông qua tài khoản của Bộ Thơng Mại và
đợc thanh toán bằng VNĐ tơng ứng với tỷ giá do Nhà nớc quy định. Trong điều
kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay, đa số các đơn vị kinh doanh nhập khẩu đợc chủ
động trong hoạt động kinh doanh của mình nên số lợng các đơn vị kinh doanh theo
phơng thức này rất ít chỉ trừ các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt.
6
* Nhập khẩu ngoài nghị định th : là phơng thức hoạt động trong đó các doanh
nghiệp nhập khẩu không theo nghị định th hay hiệp định th do chính phủ ký kết
nhng vẫn nằm trong khuôn khổ pháp lý do Nhà nớc quy định. Các doanh nghiệp
phải tự cân đối về tài chính, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nớc, chủ
động về giá cả hàng hoá, thị trờng trong phạm vi Nhà nớc cho phép. Và các doanh
nghiệp hoàn toàn có quyền chủ động trong tổ chức nhập khẩu từ khâu đầu tiên cho
đến khâu cuối cùng. Doanh nghiệp phải tự tìm bạn hàng, nguồn hàng, tổ chức giao
dịch ký kết và thực hiện hợp đồng trên cơ sở tuân thủ chính sách chế độ kinh tế của
Nhà nớc. Đối với số ngoại tệ thu đợc từ tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu doanh nghiệp
không phải nộp vào quỹ ngoại tệ tập trung mà có thể bán ở trung tâm giao dịch
ngoại tệ hoặc ngân hàng. Nhập khẩu theo phơng thức này tạo cho các doanh
nghiệp điều kiện để phát huy sự năng động sáng tạo và độc lập trong hạch toán
kinh doanh phù hợp với cơ chế thị trờng.
1.2.3. Các hình thức nhập khẩu
Hiện nay họat động nhập khẩu thờng đợc thực hiện theo hai hình thức :
- Hình thức nhập khẩu trực tiếp.
- Hình thức nhập khẩu ủy thác.
1.2.3.1. Hình thức nhập khẩu trực tiếp:
Là hình thức mà các doanh nghiệp trong nớc có đủ điều kiện về tài chính,
điều kiện nhân lực , điều kiện địa lý có khả năng mua hàng nhập khẩu và đợc nhà
nớc, bộ thơng mại cấp giấy phép, cho phép trực tiếp giao dịch, kí kết các hợp đồng
về nhập khẩu hàng hóa với nớc ngoài và thanh toán bằng ngoại tệ (chủ yếu là các
ngoại tệ mạnh) nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nớc theo
chính sách của Nhà nớc.
1.2.3.2. Hình thức nhập khẩu ủy thác.
7
Là hình thức nhập khẩu đợc áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhu cầu
nhập khẩu hàng hóa nhng không có khả năng điều kiện hoặc cha đợc Nhà nớc cho
phép nhập khẩu trực tiếp nên phải nhờ doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp nhập khẩu
hộ. Theo hình thức này doanh nghiệp ủy thác đợc phép hạch toán trị giá hàng nhập
khẩu và có trách nhiệm thanh toán chi phi nhập khẩu cho bên nhận ủy thác. Còn
bên nhận ủy thác đóng vai trò là đại lý mua hởng hoa hồng theo thỏa thuận trong
hợp đồng ủy thác mà hai bên đã kí kết. Đơn vị nhận ủy thác có trách nhiệm nhập
hàng về theo đúng số lợng , chất lợng, mẫu mã đợc yêu cầu.
Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể
của từng doanh nghiệp. Trên thực tế có nhiều doanh nghiệp áp dụng cả hai hình
thức nhập khẩu trên nhằm tối đa hóa hiệu quả trong kinh doanh. Thông thờng tổ
chức hoạt động nhập khẩu theo hình thức trực tiếp có lợi hơn vì doanh nghiệp có
thể chủ động nắm bắt thông tin, tìm hiểu thị trờng một cách sâu sắc và toàn diện,
có điều kiện mở rộng quan hệ, uy tín với bạn hàng nớc ngoài.
1.2.4. Các phơng thức thanh toán Quốc tế chủ yếu dùng trong hoạt động nhập
khẩu
Phơng thức thanh toán là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện hợp
đồng và nó cũng ảnh hởng tới công tác kế toán. Hiện nay trong quan hệ ngoại th-
ơng có rất nhiều phơng thức thanh toán khác nhau, tùy theo mức độ tín nhiệm và
giá trị hợp đồng mà ngời nhập khẩu phảichấp nhận hình thức thanh toán do ngời
xuất khẩu yêu cầu hoặc theo điều kiện thanh toán ttong hợp đồng ngoại thơng đã
kí.
1.2.4.1. Ph ơng thức ghi sổ
Là phơng thức thanh toán trong đó ngời xuất khẩu hàng hóa cung ứng dịch
vụ ghi nợ cho ngời nhập khẩu, theo dõi vào một cuốn sổ riêng và việc thực hiện
thanh toán các khoản nợ này sẽ đợc thực hiện sau một thời kì nhất định.
8
1.2.4.2. Ph ơng thức chuyển tiền
Sơ đồ phơng thức thanh toán chuyển tiền ( sơ đồ 1.1 ) :
(4)
(2) (3) (5)
(1)
(1) Ngời xuất khẩu sau khi kí hợp đồng xuất khẩu với phơng thức thanh toán
chuyển tiền sẽ giao hàng cùng bộ chứng từ cho ngời nhập khẩu.
(2) Ngời nhập khẩu sau khi nhận hàng một thời gian nhất định quy định trong
hợp đồng sẽ liên hệ với ngân hàng phục vụ mình để nhờ chuyển trả tiền cho
ngời xuất khẩu.
(3) Ngân hàng ghi nợ tài khoản của ngời nhập khẩu.
(4) Ngân hàng phục vụ ngời nhập khẩu tiến hành chuyển tiền cho ngân hàng
phục vụ ngời xuất khẩu.
(5) Ngân hàng phục vụ ngời xuất khẩu chuyển giấy báo cho ngời xuất khẩu.
1.2.4.3. Ph ơng thức thanh toán nhờ thu
Là phơng thức thanh toán mà trong đó ngời xuất khẩu khi đã hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng thì tiến hành ủy thác
cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền hàng trên cơ sở hối phiếu do ngời xuất
khẩu lập. Có hai hình thức nhờ thu là: nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
Sơ đồ phơng thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ ( sơ đồ 1.2)
(6)
(3)
(4) (5) (2) (7)
9
Ngân hàng phục vụ
ngời nhập khẩu
Ngân hàng phục vụ
ngời xuất khẩu
Ngời nhập khẩu Ngời xuất khẩu
Ngân hàng phục vụ
ngời nhập khẩu
Ngân hàng phục vụ
ngời xuất khẩu
(1)
(1) Ngời xuất khẩu sau khi kí hợp đồng, trong đó quy định phơng thức thanh toán
là nhờ thu kèm chứng từ sẽ giao hàng không kèm theo chứng từ cho ngời nhập
khẩu.
(2) Ngời xuất khẩu chuyển hối phiếu cùng với bộ chứng từ cho ngân hàng phục vụ
mình uỷ thác thu.
(3) Ngân hàng phục vụ ngời xuất khẩu chuyển hối phiếu kèm chứng từ cho ngân
hàng phục vụ ngời nhập khẩu để nhờ thu.
(4) Ngân hàng phục vụ ngời nhập khẩu chuyển hối phiếu và bộ chứng từ cho ngời
nhập khẩu đổi lấy tiền.
(5) Ngời nhập khẩu chuyển trả tiền cho ngân hàng phục vụ mình.
(6) Ngân hàng phục vụ ngời nhập khẩu chuyển tiền cho ngân hàng phục vụ ngời
xuất khẩu.
(7) Ngân hàng phục vụ ngời xuất khẩu gửi giấy báo cho ngời xuất khẩu.
1.2.4.4. Ph ơng thức thanh toán tín dụng chứng từ
Phơng thức tín dụng chứng từ (thanh toán bằng cách mở th tín dụng L/C) là
một sự thỏa thuận trong đó ngân hàng (ngân hàng mở L/C) theo yêu cầu của khách
hàng (ngời xin mở L/C) sẽ trả một số tiền nhất định cho một ngời khác (ngời hởng
lợi số tiền trên của L/C) hoặc chấp nhận hối phiếu do ngời hởng lợi thứ nhất ký
phát (trong phạm vi số tiền nhất định đó), khi ngời hởng lợi xuất trình cho một số
ngân hàng, một số bộ chứng từ hàng hóa phù hợp đề ra trong L/C.
Sơ đồ phơng thức thanh toán tín dụng chứng từ (sơ đồ 1.3)
(2)
(5)
(6)
10
Ngời nhập khẩu Ngời xuất khẩu
Ngân hàng L/C Ngân hàng thông báo
(1) (7) (8) (6) (5) (3)
(4)
(1) ngời nhập khẩu làm đơn xin mở L/C và gửi cho ngân hàng mở L/C yêu cầu mở
L/C cho ngời xuất khẩu hởng.
(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C và chuyển
cho ngân hàng thông báo mở L/C.
(3) Khi nhận đợc thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho ngời xuất
khẩu toàn bộ nội dung của thông báo về việc mở L/C và khi nhận đợc bản gốc L/C
thì chuyển ngay cho ngời xuất khẩu.
(4) Ngời bán nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, ngợc lại thì đề nghị ngời
mua và ngân hàng mở L/C sửa đổi và bổ xung L/C cho phù hợp với hợp đồng mới
giao hàng.
(5) Sau khi giao hàng, ngời bán lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C xuất trình
cho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng thông báo để đòi tiền.
(6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp với L/C thì trả tiền cho
ngời bán, nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ
cho ngời xuất khẩu.
(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền ngời nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ hàng hoá
cho ngời nhập khẩu.
(8) Ngời mua kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền cho
ngân hàng mở L/C , ngợc lại thì từ chối trả tiền.
Thông qua trình tự tiến hành các bớc ta thấy quá trình giao dịch giữa ngời
xuất khẩu, ngời nhập khẩu, ngân hàng và sự vận động chặt chẽ hai luồng tiền và
11
Ngời nhập khẩu Ngời xuất khẩu
hàng. Ngoài ra ta còn thấy hai mặt vừa độc lập vừa phụ thuộc giữa L/C và hợp
đồng nhập khẩu. Chúng độc lập ở chỗ ngân hàng chỉ căn cứ vào đơn xin mở L/C
của bên nhập khẩu để tiến hành mở L/C mà không hề quan tâm đến hợp đồng xuất
nhập khẩu, và tiến hành thanh toán cho bên xuất khẩu khi bộ chứng từ thỏa mãn
các điều kiện của L/C kể cả khi các điều kiện này trái với hợp đồng. Tuy nhiên
chúng lại phụ thuộc nhau ở chỗ L/C đợc thảo ra trên cơ sở các điều khoản của hợp
đồng đã kí.
Tính chặt chẽ trong quy trình thanh toán khiến phơng thức thanh toán bằng
L/C có độ tin cậy rất cao. Tuy nhiên phơng thức này cũng có một số hạn chế đó là
sự phức tạp và độ chi phí cao phải trả cho ngân hàng phục vụ. Mặt khác khi mở
L/C ngời nhập khẩu phải kí một khoản tiền tơng ứng 10 - 100% giá trị hợp đồng
tùy mức độ tín nhiệm của ngân hàng với ngời xin mở L/C. Đây chính là khoản vốn
mà ngời nhập khẩu phải ứ đọng tại ngân hàng trong quá trình thực hiện hợp đồng
xuất nhập khẩu.
1.2.5. Các phơng tiện thanh toán chủ yếu dùng trong hoạt động nhập khẩu
1.2.5.1. Sec
Là một tờ lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng kí phát ra lệnh cho
ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho ngời có tên trên sec hoặc trả theo
lệnh của ngời đó hoặc trả cho ngời cầm sec một số tiền nhất định.
1.2.5.2. Kỳ phiếu
Kỳ phiếu do ngời nhập khẩu lập ra trong đó cam kết sau một thời gian sẽ
thanh toán toàn bộ số tiền hàng nhập khẩu cho ngời xuất khẩu.
1.2.5.3. Hối phiếu
Là một tờ lệnh trả tiền vô điều kiện do một ngời ký phát cho một ngời khác,
yêu cầu ngời này khi nhận đợc nó phải trả ngay hoặc phải trả vào một thời gian xác
định trong tơng lai một số tiền nhất định cho một ngời nào đó có tên trên hối phiếu
12
hoặc theo lệnh của ngời này trả cho một ngời khác hoặc trả cho ngời cầm hối
phiếu.
1.3 Những quy định đối với hàng nhập khẩu
1.3.1 Yêu cầu quản lý đối với hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là hoạt động tơng đối phức tạp. Nó đòi hỏi các doanh nghiệp có
một tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có trình độ hiểu biết về nghiệp vụ ngoại thơng, tập
quán kinh doanh quốc tế, luật pháp quốc tế ở một mức độ nhất định. Trong điều
kiện hiện nay, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu tơng đối cao. Muốn hoạt động kinh doand có hiệu qủa để đạt đợc các yêu cầu
đề ra ở trên thì các doanh nghiệp cần phải làm tốt các khâu quản lý.
Trong hoạt động nhập khẩu với những đặc thù riêng và vai trò quan trọng
của nó thì việc quản lý tốt các giai đoạn của quá trình nhập khẩu là rất cần thiết.
Muốn vậy phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Trớc khi kí kết các hợp đồng nhập khẩu, các nhà quản lý doanh nghiệp phải
nắm bắt chính xác, kịp thời nhứng thông tin về nhu cầu của thị trờng, về tình hình
cung cầu của các loại hàng hoá mà doanh nghiệp dự định sẽ mua, phải hiểu rõ và
nắm vững quy luật vận động của thị trờng, đặc biệt là về giá cả hàng hoá. Hơn nữa,
các nhà quản lý còn phải quan tâm đến những biến động khó lờng của tỷ gía để có
biện pháp ứng phó kịp thời, nắm chắc các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng: tên
hàng, số lợng, phẩm chất, giá cả, thời hạn thanh toán
Khi thực hiện hợp đồng cac doanh nghiệp phải luôn luôn bám sát các điều
khoản của hợp đồng, tuân thủ chặt chẽ mọi điều khoản nhng vẫn bảo đảm mức chi
phí bỏ ra tối thiểu nhằm tăng uy tín của doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả của
kinh doanh. Cụ thể các doanh nghiệp cần thực hiện tốt từ khâu đầu tiên là mở L/C,
kiểm tra hàng hoá kỹ lỡng cả về chất lợng và số lợng, kiểu dáng , tr ớc khi nhận
hàng cho đến khâu cuối cùng là thanh lý hợp đồng.
13
Khi hàng nhập khẩu về kho, doanh nghiệp phải có chế độ bảo quản tốt và quản lý,
giám sát chặt chẽ số hàng đó cả về số lợng và mặt giá trị.
1.3.2 Thời hạn và phạm vi xác định hàng nhập khẩu
1.3.2.1Phạm vi hàng nhập khẩu
Hàng nhập khẩu là những hàng hoá từ nớc ngoài vào nớc ta thông qua việc
mua bán, trao đổi ngoại thơng giữa các doanh nghiệp trong nớc và các doanh
nghiệp ngoài nớc. Hàng nhập khẩu vào nớc ta rất đa dạng phục vụ cho nhiều mục
đích khác nhau nh nhu cầu đầu t, sản xuất, tiêu dùng Các tr ờng hợp sau đợc coi
là hàng nhập khẩu:
Hàng mua của nớc ngoài trên cơ sở các hợp đồng ngoại thơng mà doanh
nghiệp xuất nhập khẩu nớc ta đã kí kết với các doanh nghiệp nớc ngoài.
Hàng hoá mà nớc ngoài đa vào nớc ta để tham gia hội chợ, triển lãm , sau
đó doanh nghiệp xuất nhập khẩu mua lại và thanh toán bằng ngoại tệ.
Hàng hoá của nớc ngoài viện trợ cho nớc ta trên cơ sở các hiệp định, nghị
định th ký kết giữa các Chính phủ Việt Nam với các nớc khác, đợc thực hiện thông
qua các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Hàng hoá mua ở nớc ngoài để xuất khẩu cho nớc thứ ba theo hợp đồng đã kí
giữa các bên.
1.3.2.2 Thời điểm xác định hàng nhập khẩu
Việc xác định thời điểm hàng nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng trong
công tác hạch toán kế toán và thống kê. Theo thông lệ chung và nguyên tắc kế toán
đợc thừa nhận thì thời điểm xác định là hàng nhập khẩu là khi chuyển quyền sở
hữu cho khách hàng, khách hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Tuy
nhiên, điều này còn phụ thuộc rất lớn vào phơng thức bán hàng và địa điểm giao
nhận hàng hoá cụ thể nh sau:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét