Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
54 Kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Cổ phần Kiểm toán & Định giá Việt Nam thực hiện
xuất có chi phí thấp nhất, đó chính là cơ sở, tiền đề để hạ giá thành, tăng doanh
lợi.
Tóm lại, chi phí sản xuất nằm trong giai đoạn sản xuất và kết quả của giai
đoạn này thể hiện ở thành phẩm, sản phẩm dở dang. Do đó, khi kiểm toán cần phải
cân nhắc các vấn đề sau:
Xem xét việc tổ chức hạch toán chi phí sản xuất, đối tợng hạch toán chi phí,
tính phù hợp của phơng pháp kế toán áp dụng, tính trung thực của số liệu.
Ngoài việc kiểm toán các yếu tố chi phí chính là chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, kiểm toán viên còn phải
kiểm toán đối với chi phí sản xuất kinh doanh dở dang và việc tính giá thành sản
phẩm. Khi đó kiểm toán viên cần phải xem xét các phơng pháp đánh giá sản phẩm
dở dang và phơng pháp tính giá thành có phù hợp hay không, đồng thời xem xét
tính nhất quán của các phơng pháp đó.
2. Kiểm soát nội bộ đối với chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là một khoản chi phí chiếm tỷ trọng tơng đối lớn trên Báo cáo
tài chính của doanh nghiệp (đặc biệt là đối với những doanh nghiệp sản xuất). Để
có thể kiểm soát tốt chi phí sản xuất, các doanh nghiệp thờng thiết lập hệ thống
kiểm soát nội bộ theo sự vận động của chi phí. Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với
chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp thờng bao gồm các yếu tố sau:
Bộ phận quản lý sản xuất và các chính sách về quản lý sản xuất
Bộ phận quản lý sản xuất phải đảm bảo xuyên suốt từ trên xuống dới và phải
đợc thiết lập từ bộ phận quản lý cấp cao nh: Phòng Kế hoạch, Phòng Quản lý sản
xuất, Phòng Kiểm tra chất lợng, các phân xởng, tổ đội sản xuất Các bộ phận và
từng cá nhân trong bộ phận này cần đợc phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm
trong công tác quản lý chi phí sao cho phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh,
đặc điểm quy trình công nghệ, phơng thức và trình độ quản lý của doah nghiệp.
Các chính sách về quản lý sản xuất trong doanh nghiệp đợc xây dựng từ giai
đoạn cung cấp các nguồn lực cho sản xuất đến giai đoạn kết thúc sản xuất, bao
gồm:
Chính sách về xuất vật t cho sản xuất nh: vật t xuất kho phải có phiếu yêu cầu
sử dụng vật t và có sự phê chuẩn của bộ phận sản xuất
Chính sách về theo dõi thời gian làm việc và chính sách tính lơng cho công
nhân viên nh: tính lơng theo sản phẩm hoàn thành, theo thời gian .
Đối với các doanh nghiệp lớn thì một yêu cầu cơ bản nhất là phải xây dựng đợc
hệ thống tiêu chuẩn để kiểm soát chi phí. Doanh nghiệp phải xây dựng đợc định
mức kinh tế kỹ thuật về tiêu hao vật t và lao động cho từng loaị sản phẩm và từng
công đoạn chế biến sản phẩm. Các định mức chi phí này luôn phải đợc thiết lập
phù hợp với dây truyền công nghệ và đợc theo dõi định kỳ bởi bộ phận quản lý sản
xuất. Các chi phí sản xuất thực tế phát sinh đợc so sánh với định mức nhằm phát
hiện những biến động bất thờng để từ đó ra những quyết định kịp thời.
5
Ngoài ra, để kiểm soát tốt đợc chi phí sản xuất, các doanh nghiệp cần có các
quy định về việc ghi chép sổ sách tại các bộ phận sản xuất và các quy định về
kiểm tra tại các tổ đội sản xuất.
Hệ thống kế toán
Đây là yếu tố quan trọng trong hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm hệ thống
chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ kế toán chi phí, báo cáo
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, các chính sách kế toán liên quan đến chi
phí sản xuất.
Hệ thống chứng từ kế toán:
Chứng từ kế toán là vật mang tin, chứng minh cho nghiệp vụ kinh tế đã thực
sự phát sinh và hoàn thành. Các chứng từ sử dụng trong hạch toán chi phí sản xuất
bao gồm:
Các chứng từ vật t: Yêu cầu sử dụng vật t, Phiếu xuất kho, Phiếu báo vật t còn
lại
Các chứng từ về tiền lơng: Bảng chấm công, Bảng thanh toán tiền lơng, tiền
thởng, Phiếu bảo hiểm xã hội
Chứng từ về tài sản cố định: Bảng tính khấu hao, Bảng phân bổ khấu hao .
Các chứng từ dịch vụ mua ngoài: Hoá đơn tiền điện, tiền nớc .
Ngoài ra, còn một số chứng từ khác nh Bảng phân bổ tiền lơng, Bảng phân bổ
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
Các chứng từ này phải đợc lập một cách rõ ràng và trung thực, phản ánh đúng
nội dung, bản chất của nghiệp vụ kinh tế phát sinh và tuân thủ theo đúng quy định
về trình tự luân chuyển chứng từ. Các yếu tố trên chứng từ phải đảm bảo đầy đủ,
gạch bỏ phần bỏ trống, không tẩy xoá, sửa chữa. Trong mọi trờng hợp, tính liên
tục trên các chứng từ cần phải đợc tuân thủ.
Phơng thức hạch toán chi phí sản xuất
Các nghiệp vụ kinh tế liên quan đến chi phí sản xuất phát sinh phải đợc hạch
toán đúng vào tài khoản trên cơ sở quy trình hạch toán nh sau:
Sơ đồ 01: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất hạch toán chi phí sản xuất
6
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Hàng tồn kho
Giá vốn hàng bán
Kết chuyển chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp
Kết chuyển chi phí
nhân công trực tiếp
Kết chuyển chi phí
sản xuất chung
Nhập kho hoặc gửi bán
Tiêu thụ thẳng không qua kho
Hệ thống sổ kế toán:
Hiện nay có 4 hình thức ghi sổ là Nhật ký chung, Chứng từ ghi sổ, Nhật ký
chứng từ, Nhật ký sổ cái. Tuỳ từng điều kiện thực tế, các doanh nghiệp có thể lựa
chọn một trong các hình thức sổ trên, đồng thời mở sổ chi tiết theo từng đối tợng
tập hợp chi phí. Các sổ kế toán cơ bản về chi phí sản xuất bao gồm: Sổ cái, Sổ chi
tiết về chi phí sản xuất, Bảng tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm .
Các nguyên tắc cơ bản trong hạch toán chi phí sản xuất
Trong toàn bộ quá trình hạch toán chi phí sản xuất, doanh nghiệp phải tuân
thủ các nguyên tắc kế toán chung đợc thừa nhận do Hội đồng chuẩn mực của của
Liên đoàn kế toán viên quốc tế ban hành, đặc biệt là bốn nguyên tắc cơ bản chi phí
đối với chi phí sản xuất, đó là:
Nguyên tắc chi phí: Việc tính toán chi phí và trình bày trên báo cáo tài chính
phỉa dựa trên giá thực tế mà không quan tâm đến giá thị trờng.
Nguyên tắc nhất quán: Việc sử dụng các phơng pháp tính giá, phơng pháp hạch
toán chi phí phải thống nhất giữa các kỳ.
Nguyên tắc phù hợp: Hạch toán chi phí phải đúng đối tợng chịu chi phí, đúng
kỳ và phù hợp với thu nhập trong kỳ.
Nguyên tắc thận trọng: Đảm bảo sự an toàn khi tính các khoản chi phí và thu
nhập, trong đó thu nhập phải đợc đảm bảo chắc chắn, chi phí phải đợc tính tối đa.
Những nguyên tắc trên là kim chỉ nam cho việc hạch toán chi phí và cần đợc
xem xét trong bất kỳ một cuộc kiểm toán nào.
Các thủ tục kiểm soát đối với chi phí sản xuất
Các thủ tục kiểm soát chủ yếu đối với khoản mục chi phí sản xuất trong doanh
nghiệp đợc thiết lập chủ yếu dựa trên ba nguyên tắc sau:
Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: Theo nguyên tắc này, không cho phép cá
nhân nào quản lý nghiệp vụ từ khâu đầu đến khâu cuối. Cụ thể là pphải phân công
công việc giữa chức năng mua hàng, chức năng phê duyệt, chức năng nhập kho,
ghi sổ để tránh tình trạng gian lận, đồng thời thông qua đó các chức năng có thể
kiểm soát chéo lẫn nhau.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: Theo nguyên tắc này, cần tách bạch giữa công tác
ghi sổ, công tác quản lý vật t, tài sản, theo dõi lao động và công tác thu chi trong
doanh nghiệp.
7
Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn: Theo nguyên tắc này, tất cả các nghiệp vụ
về thu, chi, xuất, nhập vật t, quyết định các vấn đề về tiền lơng, tiền thởng phải
đợc cấp có thẩm quyền phê chuẩn.
3. Vai trò của kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất trong kiểm toán báo cáo
tài chính
Chi phí nói chung và chi phí sản xuất nói riêng đóng vai trò nhất định trong
Báo cáo tài chính và là một trong những yếu tố rất quan trọng trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp. Chi phí phát sinh và biến đổi liên tục trong quá trình phát
triển của doanh nghiệp, gắn liền với sự tồn tại của doanh nghiệp. Mặc dù chi phí
sản xuất cha đủ để nói lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhng nó ảnh h-
ởng trực tiếp đến việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh và việc tính toán các
chỉ tiêu trên báo cáo tài chính. Cụ thể:
Các chỉ tiêu về chi phí sản xuất có liên quan chặt chẽ tới các tài khoản trên
Bảng cân đối kế toán cũng nh các chu trình kiểm toán khác. Cụ thể, chi phí sản
xuất liên quan đến tài khoản 152, 334, 338, 214 .do vậy nó cũng liên quan đến
các chu trình mua hàng - thanh toán, chu trình tiền lơng - nhân viên, chu trình đầu
t tài sản cố định Vì vậy, việc xem xét, đánh giá các chỉ tiêu chi phí sản xuất đ ợc
gắn liền với quá trình xem xét, đánh giá các khoản mục, các chu trình nghiệp vụ
liên quan và đòi hỏi một sự phân tích, đánh giá tổng hợp của kiểm toán viên.
Trên Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, các chỉ tiêu về chi phí là các chỉ tiêu
quan trọng phản ánh tổng quát quá trình kinh doanh trong bất kỳ doanh nghiệp
nào mà mọi sai sót liên quan đến việc phản ánh chi phí đều có ảnh hởng trực tiếp
đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận của hoạt động kinh doanh.
Đối với Nhà nớc, các chỉ tiêu doanh thu và chi phí cùng các khoản thu nhập
káhc có liên quan trực tiếp đến việc xác định thuế thu nhập và thuế giá trị gia tăng
phải nộp. Theo đó, những sai sót hay gian lận trong quá trình hạch toán chi phí sản
xuất có ảnh hởng trực tiếp tới nghĩa vụ của doanh nghiệp với ngân sách Nhà nớc.
Khoản mục chi phí sản xuất có ảnh hởng lớn tới các khoản mục khác trong
báo cáo tài chính. Do vậy, khoản mục này luôn đợc coi là một khoản mục trọng
yếu. Trong bất kỳ một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính nào, khi đánh giá tính
trọng yếu của các khoản mục trên báo cáo tài chính, các kiểm toán viên đều cho
rằng khoản mục chi phí sản xuất là trọng yếu và do đó cần phải đợc tiến hành
kiểm toán một ccách đầy đủ nhằm tránh bỏ sót những sai sót trọng yếu có thể có
đối với khoản mục này và do đó có thể giảm rủi ro kiểm toán xuống mức thấp nhất
có thể đợc. Tính đúng đắn của việc tập hợp chi phí sản xuất là một cơ sở quan
trọng để kiểm toán viên đa ra ý kiến của mình về tính trung thực và hợp lý của các
thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính cuả doanh nghiệp, đồng thời t vấn
cho doanh nghiệp hoàn thiện hơn trong công tác hạch toán kế toán, từ đó nâng cao
hiệu quả kinh doanh của khách hàng.
8
Với những lý do trên, kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất trở thành một
phần hành không thể thiếu đợc trong kiểm toán báo cáo tài chính , đặc biệt là đối
với kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp sản xuất. Nếu thiếu kiểm toán
khoản mục này kiểm toán viên không thể đa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý
của các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính trên các khía cạnh trọng yếu, tức
là không đạt đợc mục tiêu kiểm toán đối với khách hàng.
4. Đặc điểm của kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất trong kiểm toán báo
cáo tài chính
Kiểm toán chi phí sản xuất vừa mang đặc điểm chung của kiểm toán báo cáo
tài chính, vừa mang đặc điểm riêng của kiểm toán khoản mục.
Kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất mang đặc điểm chung của kiểm toán
báo cáo tài chính
Về chức năng: Kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất sản xuất nhằm xác minh
và bày tỏ ý kiến về tính trung thực, hợp lý và hợp pháp của khoản mục chi phí sản
xuất trên báo cáo tài chính.
Về phơng pháp kiểm toán: Kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất sử dụng kết
hợp 2 phơng pháp cơ bản là kiểm toán chứng tứ và kiểm toán ngoài chứng từ.
Về trình tự kiểm toán: Kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất đợc tiến hành theo
3 bớc: Lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán.
Kiểm toán chi phí sản xuất mang đặc điểm riêng của kiểm toán khoản mục
Về đối tợng kiểm toán: Kiểm toán chi phí sản xuất có đối tợng là khoản mục
chi phí sản xuất. Do đó, việc kiểm toán chi phí sản xuất gắn với việc kiểm tra tính
đúng đắn và hợp lý trong quá trình lập và luân chuyển chứng từ về chi phí sản
xuất,tính chính xác trong quá trình tính toán, ghi chép sổ sách về chi phí sản xuất
và trình bày trên Báo cáo tài chính.
Về phơng pháp kiểm toán: Kiểm toán chi phí sản xuất sử dụng kết hợp cả hai
phơng pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ nhng chú trọng nhiều đến ph-
ong pháp cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic. Bên cạnh đó, kiểm toán viên
còn sử dụng các phơng pháp quan sát, phỏng vấn, điều tra.
Về thực hiện kiểm toán: Trong quá tình thực hiện kiểm toán khoản mục chi phí
sản xuất, kiểm toán viên thờng chú ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất có liên quan đến các chỉ tiêu
tiền mặt, vật t, hàng hoá, tiền lơng Vì vậy, kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất
thờng kết hợp với kiểm toán các phần hành có liên quan để giảm bớt khối lợng
công việc kiểm toán.
Thứ hai, các nghiệp vụ phát sinh về chi phí sản xuất có liên quan trực tiếp đến
các nghiệp vụ chi tiền, nghiệp vụ xuất vật t, hàng hoá. Đây là những yếu tố thờng
xuyên biến động, dễ xảy ra gian lận và sai sót nhất nên khoản mục chi phí sản
xuất dễ xảy ra sai phạm. Vì vậy, kiểm toán viên phải hết sức thận trọng trong quá
trình kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất.
9
Thứ ba, khoản mục chi phí sản xuất ảnh hpởng trực tiếp đến các chỉ tiêu trên
Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh. Vì vậy, khoản mục chi phí
sản xuất đợc đánh giá là trọng yếu trong quá trình kiểm toán.
II. Mục tiêu và trình tự kiểm toán chi phí sản xuất
trong kiểm toán báo cáo tài chính
1. Mục tiêu của kiểm toán chi phí sản xuất
Mục tiêu kiểm toán tổng quát theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200,
đoạn 11 xác định: Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán
viên và công ty kiểm toán đa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có đợc
lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc đợc chấp nhận), có
tuân thủ pháp luật liên quan, có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài
chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không? .
Đây là mục tiêu tổng quát của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính . Mục tiêu
tổng quát này đợc cụ thể hoá thành các mục tiêu nh tính hợp lý chung, tính hiện
hữu, tính đầy đủ, tính giá, quyền và nghĩa vụ, trình bày và khai báo.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, ngoài việc phải xác định chính xác các
mục tiêu cụ thể, kiểm toán viên còn phải gắn các mục tiêu đó vào từng phần hành
kiểm toán để xây dựng hệ thống mục tiêu đặc thù. Việc xác định mục tiêu kiểm
toán đặc thù cho mỗi phần hành, khoản mục cụ thể là một công việc quan trọng,
góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán đồng thời có thể giúp làm giảm
rủi ro kiểm toán xuống mức thấp nhất. Trên cơ sở các mục tiêu kiểm toán đặc thù
cho từng khoản mục, kiểm toán viên tiến hành các thủ tục để khẳng định mục tiêu
kiểm toán đó có đợc đơn vị khách hàng tuân thủ hay không, từ đó tìm ra các sai
phạm.
Nh đã trình bày, chi phí sản xuất bao gồm các yếu tố chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Do vậy, việc kiểm
toán chi phí sản xuất đợc tiến hành dựa trên cơ sở kiểm toán đối với những khoản
mục này.
Kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất trong kiểm toán báo cáo tài chính thờng
hớng tới các mục tiêu đặc thù sau:
Tính hiện hữu: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh về chi phí sản xuất đã đợc ghi
sổ là có thật và có căn cứ hợp lý.
Tính đầy đủ: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế liên quan đến chi phí sản xuất trong
kỳ đều phải đợc phản ánh trên sổ sách kế toán của đơn vị một cách đầy đủ, đúng
kỳ và đảm bảo không có sai sót trọng yếu phát sinh.
Tính chính xác: Các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ phải đợc phản
ánh đúng với giá trị thực của nó và phù hợp với các chứng từ gốc đi kèm. Việc kết
chuyển số liệu giữa các sổ kế toán và Báo cáo tài chính phải đợc thực hiện một
cách chính xác và phù hợp với các nguyên tắc kế toán.
10
Tính tuân thủ: Việc áp dụng các quy định, chính sách về chi phí sản xuất phải
nhất quán giữa các kỳ, hạch toán chi phí sản xuất phải tuân thủ các chuẩn mực,
chế độ kế toán hiện hành.
Trình bày và khai báo: Các nghiệp vụ chi phí sản xuất phát sinh phải đợc trình
bày đúng tài khoản. Việc kết chuyển số liệu giữa các sổ kế toán và Báo cáo tài
chính phải đợc thực hiện một cách chính xác và phù hợp với các nguyên tắc kế
toán.
2. Quy trình kiểm toán chi phí sản xuất
Nh đã trình bày ở trên, kiểm toán chi phí sản xuất là kiểm toán một khoản mục
trong kiểm toán báo cáo tài chính. Vì vậy, trình tự kiểm toán khoản mục chi phí
sản xuất mang đặc điểm chung của kiểm toán báo cáo tài chính, đồng thời có
những đặc điểm riêng của kiểm toán khoản mục. Tính chất riêng có của kiểm toán
khoản mục chi phí sản xuất đợc thể hiện cụ thể trong từng giai đoạn kiểm toán.
Kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất đợc tiến hành qua 3 giai đoạn: Lập kế
hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán.
2.1. Lập kế hoạch kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên trong quy trình kiểm toán, có
mục đích tạo ra các tiền đề về cơ sở pháp lý, tài liệu, vật chất, nhân lực và các điều
kiện khác trớc khi thực hiện kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán đã đợc quy
định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, đoạn 2 là: Kiểm toán viên và
công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo đợc rằng cuộc
kiểm toán đợc tiến hành một cách có hiệu quả. Trong giai đoạn này, kiểm toán
viên cần thực hiện các bớc công việc sau:
Bớc 1: Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán nhằm mục đích xác lập cơ sở pháp lý, xác đích
các mục tiêu, phạm vi kiểm toán cùng các điều kiện về nhân lực, vật lực cho cuộc
kiểm toán
Khi tiếp nhận Th mời kiểm toán, công ty kiểm toán cần đánh giá khả năng
chấp nhận kiểm toán thông qua xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ, tính liêm
chính của Ban quản lý và liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm.
Nếu chấp nhận th mời kiểm toán, công ty kiểm toán sẽ cử kiểm toán viên
xuống đơn vị theo yêu cầu của khách hàng. Kiểm toán viên đó phải có trình độ,
năng lực và sự hiểu biết về lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của khách hàng.
Kiểm toán viên cũng phải bảo đảm tính độc lập với khách hàng về lợi ích kinh tế
và quan hệ xã hội. Trên cơ sở đó, kiểm toán viên thay mặt công ty kiểm toán cùng
khách hàng ký Hợp đồng kiểm toán mà thực chất là một hợp đồng kinh tế.
Sau khi ký kết Hợp đồng kiểm toán làm căn cứ pháp lý cho cuộc kiểm toán,
kiểm toán viên xác định các mục tiêu của cuộc kiểm toán. Đây là bớc rất quan
trọng vì nó xác định cái đích cần đạt tới và là thớc đo đánh giá kết quả cuộc kiểm
toán.
11
Sau khi xác định đợc mục tiêu bao trùm của cuộc kiểm toán viên, kiểm toán
viên cần xác định đối tợng kiểm toán là các báo cáo tài chính hay một quy trình
nghiệp vụ, một hoạt động . Tiếp đó cần xác định phạm vi kiểm toán. Đó là sự
giới hạn về không gian và thời gian của đối tợng kiểm toán.
Sau khi xác định đợc đối tợng, mục tiêu, phạm vi kiểm toán, công ty kiểm
toán sẽ chỉ định nhóm kiểm toán. Đó là những ngời có trình độ tơng xứng và độc
lập với khách hàng. Trong Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế có đa ra yêu cầu đối với
kiểm toán viên là: Khả năng của kiểm toán viên, tính chính trực, khách quan và
độc lập, tính thận trọng nghề nghiệp. Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200
cũng quy định các yêu cầu đối với một kiểm toán viên khi tham gia kiểm toán, đó
là: Tuân thủ pháp luật của Nhà nớc, tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp,
tuân thủ chuẩn mực kiểm toán, có thái độ hoài nghi nghề nghiệp.
Bớc 2: Thu thập thông tin
Bớc công việc này khá quan trọng giúp kiểm toán viên hiểu khái quát về
khách thể kiểm toán. Trong Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế (ISA) 310 chỉ rõ: Để
thực hiện công tác kiểm toán tài chính, chuyên gia kiểm toán phải hiểu biết đầy
đủ về hoạt động của đơn vị đợc kiểm toán để xác định và hiểu đợc các sự kiênj,
nghiệp vụ và cách làm việc của đơn vị, mà theo đánh giá của kiểm toán viên có
thể có một tác động quan trọng đến các báo cáo tài chính, đến việc kiểm toán
hoặc đến báo cáo kiểm toán .
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 310 - Hiểu biết về tình hình kinh doanh
của khách hành có nêu: Khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán
viên phải nắm đợc tình hình kinh doanh của đơn vị để có thể nhận thức và xác
định các sự kiên, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động mà theo đánh giá của kiểm
toán viên có thể ảnh hởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra
của kiểm toán viên hoặc đến báo cáo kiểm toán .
Trong bớc này, kiểm toán viên cần thu thập thông tin cơ sở và thông tin về
nghĩa vụ pháp lý của khách hàng. Thu thập thông tin cơ sở có mục đích giúp kiểm
toán viên hiểu đợc một cách tổng quát lĩnh vực hoạt động và tình hình sản xuất
kinh doanh của đơn vị khách hàng. Các thông tin này có thể đợc thu thập từ nhiều
nguồn khác nhau nh: Tham quan nhà xởng, xem xét các tài liệu của công ty,
phỏng vấn nhân viên của công ty, nhậ diệnc ác bên có liên quan, trao đổi với kiểm
toán viên năm trớc hoặc tham khảo ý kiến của các chuyên gia bên ngoài.
Kết quả cần thu thập đợc trong bớc này nhằm giải đáp những câu hỏi doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực gì, sản xuất những hàng hoá gì, công nghệ sản
xuất ra sao, quy mô của doanh nghiệp nh thế nào, hoạt động của doanh nghiệp ra
sao .
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng nhằm mục đích giúp
kiểm toán viên hiểu đợc những căn cứ cho sự hiện diện của khách hành trong nền
kinh tế nh doanh nghiệp thành lập theo quyết định nào, cơ quan nào cấp, laọi hình
12
doanh nghiệp, laọi hình sở hữu, cơ cấu tổ chức Kiểm toán viên có thể thu thập từ
các nguồn thông tin nh: Quyết định thành lập công ty, quy chế, nội quy công ty,
Biên bản họp hội đồng quản trị, họp cổ đông, các hợp đồng kinh tế, các báo cáo
ngành, phỏng vấn Ban giám đốc, nhân viên công ty .
Tuy nhiên, việc thu thập các thông tin về đơn vị chỉ cho phép kiểm toán viên
hiểu đợc doanh nghiệp theo chiều rộng mà cha hiểu đợc theo chiều sâu và nó
chỉ hớng tới việc đa ra các bớc kiểm toán chứ cha đặt ra mục tiêu thu thập bằng
chứng cho kết luận của kiểm toán viên.
Trong kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất , kiểm toán viên cần thu thập
thông tin về quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, đặc điểm về chi phí sản xuất,
các quy định về quản lý và kiểm soát nội bộ đối với chi phí sản xuất, các thông tin
về phân cấp quản lý chi phí sản xuất tại đơn vị đợc kiểm toán. Ngoài ra, kiểm toán
viên cần xem xét nội dung kiểm toán khoản mục chi phí sản xuất của năm trớc
(nếu có).
Bớc 3: Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ
Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ là việc kiểm toán viên phân tích các số
liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra xu hớng biến động và tìm ra
những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin có liên quan khác hoặc có sự
chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến.
Các thủ tục phân tích sơ bộ thờng đợc thực hiện ở cả 3 bớc là lập kế hoạch
kiểm toán, thực hiện kiểm toán, kết thúc kiểm toán, trong đó ở giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán, các thủ tục phân tích sơ bộ giúp kiểm toán viên nhận diện các
vấn đề quan trọng đời hởi sự quan tâm đặc biệt trong quá tình kiểm toán sau này.
Ngoài ra, kiểm toán viên còn xác định đợc rủi ro tiềm tàng liên quan đến các
khoản mục. Việc thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ bao gồm một số bớc từ xây
dựng mục tiêu phân tích, thiết kế các thủ tục phân tích, tiến hành phân tích và đa
ra kết luận. Xây dựng mục tiêu phân tích là nhằm kiểm tra các biến động và kiểm
tra tính hợp lý của các thông tin thích đáng khác hay kiểm tra các biến động có
chênh lệch lớn so với giá trị dự kiến. Trên cơ sở mục tiêu phân tích, cần thiết kế
các thủ tục phân tích. Các thủ tục phân tích đợc kiểm toán viên sử dụng gồm 2
loại:
Phân tích ngang: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của cùng
chỉ tiêu trên báo cáo tài chính. Các chỉ tiêu đợc sử dụng bao gồm: So sánh số liệu
của kỳ này với kỳ trớc, so sánh số liệu thực tế với định mức, so sánh số liệu của
doanh nghiệp với số liệu chung của ngành.
Phân tích dọc: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tơng quan qua
chỉ tiêu và các khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính. Các tỷ suất tài chính
thờng dùng trong phân tích dọc có thể là các tỷ suất về khả năng thanh toán, các tỷ
suất sinh lời
13
Sau khi các thủ tục phân tích đợc thiết kế, kiểm toán viên tiến hành phân tích.
Việc phân tích đó có thể cho kiểm toán viên biết về xu hớng tăng, giảm của thông
tin, tính hợp lý của thông tin.
Đối với phần hành chi phí sản xuất, kiểm toán viên tiến hành so sánh số liệu
trên các sổ kế toán về chi phí sản xuất với số kế hoạch của đơn vị hoặc số liệu ớc
tính của kiểm toán viên, so sánh số liệu về chi phí sản xuất của năm nay với năm
trớc, sử dụng các tỷ suất nh:
Tỷ suất lãi gộp = Tổng lãi gộp / Tổng doanh thu
Tỷ lệ vòng quay hàng tồn kho =Tổng giá vốn hàng bán / Bình quân hàng tồn
kho
Bớc 4: Tìm hiểu sơ bộ hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đối với
chi phí sản xuất
Việc tìm hiểu sơ bộ hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng là bớc quan
trọng để đánh giá rủi ro kiểm toán và thu thập bằng chứng liên quan. Trong
Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế ISA- 400 quy định rõ: Kiểm toán viên phải có đủ
hiểu biết về hệ thống kế toán và kiểm toán nội bộ của khách hàng để lên kế
hoạch kiểm toán và xây dựng cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả. Kiểm toán
viên phải sử dụng đến xét đoán chuyên môn để đánh giá rủi ro kiểm toán và xác
định các thủ tục kiểm toán nhằm gỉam các rủi ro này xuống một mức có thể
chấp nhận đợc .
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400- Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ
cũng có nêu: Kiểm toán viên phải có đ ợc hiểu biết đầy đủ về hệ thống kế toán
và kiểm soát nội bộ để đánh giá thái độ, mức độ quan tâm và sự can thiệp của
các thành viên trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc với kiểm soát nội bộ và
đánh giá khả năng của kiểm soát nội bộ của khách hàng trong việc ngăn ngừa,
phát hiện các sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính .
Để đạt đợc sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên tiến hành
khảo sátquá tình kiểm soát thông qua các hình thức cơ bản sau: Phỏng vấn các
nhân viên của Công ty, kiểm tra chứng từ, sổ sách, báo cáo, tham quan thực tế, lấy
xác nhận, quan sát các thủ tục kiểm soát, làm lại các kiểm soát
Căn cứ vào các ớc đoán về tính hiện hữu của kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên
sẽ đánh giá rủi ro kiểm soát theo những cách thức khác nhau nh theo tỷ lệ %, theo
mức độ cao, trung bình, thấp .
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục chi phí sản xuất là hết
sức cần thiết vì đó là cơ sở cho việc thiết kế các thủ tục kiểm tra chi tiết trong thực
hiện kiểm toán chi phí sản xuất. Hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khảon mục chi
phí sản xuất đợc đánh giá là hữu hiệu nếu đmả bảo đợc độ tin cậy của các thông
tin về chi phí sản xuất, bảo đảm thực hiện các quy định pháp lý về chi phí sản
xuất, bảo đảm đợc hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các vấn đề thờng đợc
quan tâm về kiểm soát nội bộ đối với khoản mục chi phí sản xuất là: Doanh
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét