Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty xây dựng số 12 -VINACONEX

Luận văn tốt nghiệp
Trong khi đó kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm lại là
công cụ sắc bén không thể thiếu được của công tác quản lý chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây dựng.
Chúng ta có thể nói rằng công tác hạch toán kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm giữ một vai trò hết sức quan trọng trong công tác
quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp xây dựng.
Như vậy, có thể thấy rằng chi phí sản xuất của một Doanh nghiệp xây
dựng là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động
vật hoá, các chi phí khác mà Doanh nghiệp đã chia ra để tiến hành các hoạt
động sản xuất trong một thời kỳ. Các chi phí này phát sinh thường xuyên và
gắn liền với quá trình sản xuất, thi công xây lắp.
II. Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản xuất trong doanh
nghiệp xây dựng.
1. Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng.
Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của một Doanh nghiệp sản suất
là thực hiện ra những loại sản phẩm nhất định và tiêu thụ những loại sản
phẩm đó trên thị trường nhằm thu lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu kinh
doanh trong hoạt động, các doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí nhất định.
Trong quá trình sản xuất thi công xây lắp Doanh nghiệp thường xuyên
bỏ ra những chi phí về các loại đối tượng lao động tư liệu lao động và sức lao
động của con người. Đâu là các yếu tố cơ bản để tiến hành các hoạt động sản
suất song sự tham gia của mỗi yếu tố này là khác nhau dẫn đến sự hình thành
những chi phí tương ứng như: Chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí về
nguyên vật liệu (gọi là chi phí về lao động vật hoá ), chi phí về tiền lương trả
cho người lao động (gọi là hao phí về lao động sống ), chi phí dịch vụ mua
ngoài và các chi phí bằng tiền khác …Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá,
cơ chế này giúp chúng ta có thể biết được số chi phí mà Doanh nghiệp đã chi
trong thời kỳ là bao nhiêu nhằm tính toán các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phục
vụ yêu cầu quản lý.
5
Luận văn tốt nghiệp
2. Các loại chi phí trong doanh nghiệp xây dựng:
Cũng giống như các ngành sản xuất khác, cấu thành của giá thành sản
phẩm xây lắp cũng được quy định bao gồm 3 khoản mục chi phí: Chi phí
NVL trực tíêp, Chi phí nhân công trực tiếp; Chi phí sản suất chung, ngoài ra
trong ngành xây dựng còn có một số loại chi phí đó là chi phí sử dụng máy thi
công. Đây là một loại chi phí chỉ có trong Doanh nghiệp xây dựng và chính
nó đã tạo ra tính đặc thù trong các Doanh nghiệp xây dựng.
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vất liệu trực tiếp gồm tất cả chi phí vật liệu trực tiếp sử
dụng cho thi công, xây lắp các công trình. Cụ thể là:
+Vật liệu chính : Gạch, cát, đá, sỏi, xi măng, gỗ vật liệu kết cấu bê tông
đúc sàn, panel…
+Vật liệu phụ: Đinh ,kẽm ,giây buộc ,kính ,sơn, vôi ve
+Nhiên liệu: Xăng ,dầu ,ga ,than củi …
+Vật liệu khác: Giá trị thiết bị đi kèm với vật liệu kiến trúc như thiết bị
vệ sinh, thiết bị thông hơi, thông gió, chiếu sáng, truyền dẫn hơi nóng …(Kể
cả chi phí sơn, mạ,bảo quản thiết bị này ).
* Chi phí nhân công trực tiếp :
Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản mà doanh nghiệp phải trả cho
công nhân trực tiếp thi công xây lắp và trả cho lao động thuê ngoài như:
+ Tiền lương của công nhân trực tiếp tham gia xây dựng công trình và
lắp đặt thiết bị (kể kả lao động thuê ngoài )
+ Phụ cấp làm đêm thêm giờ và các khoản phụ cấp có tính chất lượng
như phụ cấp trách nhiệm,phụ cấp công trường.
+ Lương phụ: Như lương nghỉ phép của công nhân xây dựng
Trong chi phí nhân công trực tiếp không bao gồm: Lương của công nhân
vận chuyển ngoài công trường.
* Chi phí sử dụng máy thi công :
6
Luận văn tốt nghiệp
Trong hoạt động xây lắp cần phải sử dụng các loại máy thi công chuyên
dùng, Máy thi công xây lắp là một bộ phận của TSCĐ, bao gồm tất cả các loại
xe, máy kể cảc các thiết bị được chuyển động bằng động cơ (chạy bằng hơi
nước, dầu, xăng …) được sử dụng trực tiếp cho các công tác xây lắp trên các
công trường thay thế cho sức lao động của con người trong các công việc san
lấp đất đá, nhào trộn vôi vữa, bê tông. Chi phí máy thi công chiếm một tỷ
trọng không nhỏ trong giá thành sản phẩm xây lắp, do vậy cần phải tổ chức
theo dõi riêng và có phương pháp phân bổ hợp lý cho các đối tượng sử dụng.
Chi phí sử dụng máy thi công chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong giá
thành xản phẩm xây lắp, do vậy cần phải tổ chức theo dõi riêng và có phương
pháp phân bổ hợp lý cho các đối tượng sử dụng.
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí vật liệu, nhân công,
các chi phí trực tiếp dùng cho quá trình sử dụng máy phục vụ cho các công
trình xây lắp. Đặc điểm của xây dựng cơ bản là máy thi công luôn gắn liền
với địa điểm xây dựng mà địa điểm xây dựng lại không cố định. Do vậy máy
thi công phải di chuyển theo các địa điểm thi công theo từng thời kỳ. Người ta
chia chi phí sử dụng máy thi công ra làm 2 loại:
+ Chi phí thường xuyên: Chi phí thường xuyên là những chi phí hàng
ngày cần thiết cho việc sử dụng máy thi công. Các chi phí này khi phát sinh
được tính hết một lần vào chi phí sử dụng máy như: Chi phí nhiên liệu dùng
cho máy thi công: Tiền lương, phụ cấp lưu động của công nhân điều khiển
máy, kể cả công nhân phục vụ máy, khấu hao máy thi công, chi phí máy thi
công (đi thuê nếu có ) chi phí sửa chữa thường xuyên máy thi công và các chi
phí khác.
+ Chi phí tạm thời : Chi phí tạm thời là chi phí phát sinh 1 lần tương đối
lớn không định mức hay tính trước được. Các chi phí này khi phát sinh không
tính hết một lần vào chi phí sử dụng máy mà được phân bổ theo thời gian sử
dụng ở công trường như: Chi phí tháo lắp, chạy thử sau khi lắp để sử dụng kể
cả lần lắp sau khi giao trả đặt để máy, chi phí vận chuyển máy thi công đến
7
Luận văn tốt nghiệp
địa điểm xây dựng, chi phí đưa xe, máy về nơi đặt để máy, chi phí di chuyển
máy trong phạm vi công trường …
* Chi phí sản suất chung :
Chi phí sản suất chung là những chi phí phục vụ sản xuất xây lắp ,
những chi phí có tính chất dùng chung cho hoạt động xây lắp gắn liền với
từng công trình cụ thể như :
+ Chi phí vật liệu: Chi phí vật liệu xuất dùng chung cho hoạt động xây
lắp như vật liệu dùng để bảo dưỡng, bảo chì công cụ, dụng cụ trên công
trường…
+ Chi phí công cụ dụng cụ sản xuất xây lắp: Ván khuôn, giàn giáo, cuốc
xẻng
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Khấu hao máy thi công trong trường hợp
doanh nghiệp không theo dõi riêng chi phí sử dụng máy thi công (không tách
chi phí máy thi công ra thành một loại chi phí riêng mà vẫn nằm trong chi phí
sản suất chung). Khấu hao TSCĐ khác phuc vụ cho công trường.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: chi phí tiền điện nước điện thoại, chi phí
sửa chữa TSCĐ thuê ngoài …
+ Các chi phí bằng tiền khác nhằm phục vụ hay liên quan đến hoạt động
xây lắp trên công trường không thuộc những khoản trên.
3. Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng :
Giá tiền sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của chi phí sản xuất thi
công tính cho 1 khối lượng xây lắp hoặc côn trình ,hạng mục cônh trình do
doanh nghiệp đã sản xuất xây lắp hoàn thành .
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng quan trọng đối với các doanh
nghiệp sản xuất cũng như đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong điều
kiện cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt thì việc hạ giá thành sản phẩm là
con đường cơ bản để tăng cường doanh lợi. Sản phẩm chất lượng tốt, giá
8
Luận văn tốt nghiệp
thành hạ sẽ là tiền đề tích cực giúp Doanh nghiệp đẩy mạnh tiêu thụ, tăng
nhanh vòng quay vốn và đem lại ngày càng nhiều lợi nhuận, từ đó tăng tích
luỹ cho Doanh nghiệp, nâng cao đời sống cho công nhân viên.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp,phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền
vốn trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà
Doanh nghiệp đã thực hiện nhằm đạt được mục đích sản xuất. Đó là có được
khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí sản xuất tích kiệm và giá thành
hạ. Đó cũng là một đồi hỏi khách quan khi các Doanh nghiệp thực hiện chế
độ hạch toán kinh tế.
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản suất (bao gồm: Chi phí
NVL trực tiếp, Chi phí nhân cônh trực tiếp, Chi phí sử dụng máy thi công
,Chi phí sản xuất chung) tính cho từng công trình, hạng mục công trình khối
lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã hoàn thành nghiệm thu
bàn giao được chấp nhận thanh toán.
Khác với doanh nghiệp công nghiệp ở Doanh nghiệp xây dựng giá thành
sản phẩm xây lắp có tính chất khác biệt: Mỗi công trình, hạng mục công trình,
hay khối lượng xây lắp sau khi đã hoàn thành đều có giá trị riêng.
4. Các loại giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây dựng :
* Giá thành dự toán công tác xây lắp :
Do sản phẩm xây dựng có giá trị lớn, thời gian thi công dài và mang tính
chất đơn chiếc, có kết cấu phức tạp, khối lượng lớn nên công trình và hạng
mục công trình đều có giá trị dự toán riêng phụ thuộc rất lớn vào địa điểm xây
dựng(giá cả vật liệu) cho công trình ở từng địa phương làm ảnh hưởng đến
giá trị của từng dự toán công trình.
Căn cứ vào giá trị dự toán của từng công trình ta có thể xác định được
giá trị dự toán của chúng
Giá thành dự toán của = Giá trị dự toán của công trình + Lãi
9
Luận văn tốt nghiệp
từng công trình
hạng mục công trình
hạng mục công trình định mức
*Giá thành kế hoạch công tác xây lắp :
Giá thành kế hoạch được xây dựng dựa trên những định mức tiên tiến
của nội bộ Doanh nghiệp xây dựng.Với giá thành kế hoạch của công tác xây
lắp không những cho phép ta tính toán chính xác những chi phí sản xuất phát
sinh trong giai đoạn kế hoạch mà còn cho phép tính toán đến nội dung, kết
quả và các biện pháp tỏ chức kỹ thuật cần phải thực hiện sao cho chi phí sản
xuất thực tế không vượt quá tổng số chi phí sản xuất dự kiến trong kế hoạch.
Giá thành kế hoạch phản ánh trỉnh độ quản lý giá thành của Doanh nghiệp .
Giá thành kế hoạch
công tác xây lắp
=
Giá thành dự toán
công tác xây lắp
-
Mức hạ giá thành
kế hoạch
(Công tác này tính cho từng công trình, hạng mục công trình )
*Giá thành thực tế công tác xây lắp :
Giá thành thực tế là biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí mà DN xây
lắp đã bổ ra để hoàn thành một khối lượng xây dựng nhất định ,được xác định
theo số liệu kế toán cung cấp. Giá thành thực tế công tác xây lắp không chỉ
bao gồm chi phí trong định mức mà còn có thể bao gồm những chi phí thực tế
phát sinh không cần thiết như: Thiệt hại do phá đi, thiệt hại ngừng sản xuất
,mất mát hao hụt vật tư do nguyên nhân chủ quan của Doanh nghiệp .
* Giữa 3 loại giá thành trên có quan hệ về mặt lượng như sau :
Giá thành dự toán ≥ Giá thành kế hoạch ≥ Giá thành thực tế
Việc so sánh các loại giá thành này được thực hiện trên cùng một đối
tượng tính giá thành (Từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng
xây lắp hoàn thành nhất định )
10
Luận văn tốt nghiệp
5. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được coi là khâu
trung tâm của công tác kế toán. ở đây vai trò của người kế toán trong công
việc quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành là rất quan trọng. Việc xác định
đúng đối tượng kế toán tập chi phí sản suất và phương pháp tính giá thành sản
phẩm thích hợp hay tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất đã
xác định đã góp phần quyết định trong việc xác định chi phí và tính giá
thành sản phẩm.
Các sản phẩm của ngành xây dựng có giá trị lớn, thời gian thi công dài,
nguyên vật liệu dùng cho thi công rất đa dạng và nhiều chủng loại khác nhau
nên việc đánh giá phân bổ chi phí cho cá đôid tượng là rất phức tạp đòi hỏi
người kế toán phải có một nhận thức đúng đắn và một sự hiểu biết sâu trong
công tác xây dựng thì mới có thể hoàn thành công việc một cách tốt nhất.
Việc tập hợp đúng các chi phí sản suất và đánh giá chính xác giá thành
của sản phẩm giúp cho lãnh đạo cơ quan có một cách nhìn chính xác về giá trị
thực của công trình, từ đó có thể xác định được khấu hao nào, những khoản
mục nào của chi phí quá cao hay quá thấp có ảnh hưởng tới công trình. Ngoài
ra, việc tập hợp và tính giá thành sản phẩm công trình chính xác giúp cho việc
xác định công trình thi công thực lãi hay thực lỗ để có thể rút ra những kinh
nghiệm cho các công trình tiếp theo .
(Sơ đồ mối quan hệ giữa CPSX & Giá thành SP)
A: Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ B: Chi phí phát sinh trong kỳ
D:Tổng giá thành sản phẩm C: CPSX dở dang cuối kỳ
Qua sơ đồ ta thấy : AC = AB + BD - CD hay
Tổng giá thành
sản phẩm
=
CPSX
dở dang đầu kỳ
+
CPSX
phát sinh trong kỳ
-
CPSX
dở dang cuối kỳ
Khi giá tri sản phẩm dở dang(chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối
kỳ bằng nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng
giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
11
Luận văn tốt nghiệp
III. Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
chi phí sản phẩm phù hợp tronh Doanh nghiệp xây dựng :
Để hach toán chi phí sản suất và tính giá thành sản phẩm được chính xác,
đòi hỏi công việc đầu tiên mà các nhà quản lý phải làm là xác định đối tượng
hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm. Xác định đối
tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi
phí và chịu chi phí. Còn xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác
định sản phẩm, công việc lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn
vị .
1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
1.1. Khái niệm đối tượng kế toán hạch toán chi phí sản xuất.
Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là các loại chi phí được tập hợp
trong một thời hạnh nhất định. Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất nhằm giúp cho việc quản lý chi phí sản xuất tốt hơn, phục vụ cho việc
tính giá thành chinh xác.
1.2. Căn cứ xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất:
Để xác định được đối tượng kế toán hạch toán chi phí ở các doanh
nghiệp khác nhau cần dựa vào các yếu tố sau:
- Tính chất sản xuất ,loại hình sản xuất đặc điểm tổ chức sản suất ,đặc
điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
- Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành ,yêu cầu quản lý, khả năng trỉnh độ
quản lý trỉnh độ hạch toán của các Doanh nghiệp.
Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản là sản phẩm đơn chiếc, thời
gian thi công dài mỗi một công trình hạng mục công trình có dự toán riêng và
có đặc điểm riêng biệt Vì vậy đối tượng tập hợp (hạch toán)chi phí trong
Doanh nghiệp xây dựng là các hạng mục công trình cùng loại, theo đơn đặt
hàng, đơn vị thi công riêng, theo công trình. Tập hợp chi phí sản xuất theo
đúng đối tượng đã quy định hợp lý có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng
12
Luận văn tốt nghiệp
cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá thành sản
phẩm được kịp thời và đúng đắn.
1.3. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất :
Phương pháp hạch toán chi phí sản suất được sử dụng để tập hợp và
phân bổ chi phí trong thời hạn tập hợp chi phí đã định.
Trong XDCB, kế toán thường sử dụng hai phương pháp chủ yếu để tập
hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng tính giá thành có liên quan
đó là: Phương pháp phân bổ trực tiếp và phương pháp phân bổ gián tiếp.
*Phương pháp phân bổ trực tiếp : Phương pháp này đòi hỏi ngay từ khâu
hạch toán ban đầu,các chứng từ kế toán đã phản ánh ghi chép riêng rẽ chi phí
sản xuất cho từng đối tượng tính giá thành liên quan . Phương pháp trực tiếp
áp dụng cho những chi phí sản suất cơ bản hoặc cho những Doanh nghiệp chỉ
có một đối tượng tính giá thành là công trình hoặc hạng mục công trình .
*Phương pháp phân bổ gián tiếp chi phí sản xuất :Phương pháp này được
áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối tượng chi
phí khác nhau. Để phân bổ chi phí, nhiều đối tượng cần xác định được tiêu
thức phân bổ hợp lý.Tiêu thức phân bổ là tiêu thức phải bảo đảm được mối
quan hệ tỷ lệ giữa tổnh chi phí cần phân bổ với tiêu thức phân bổ của các đối
tượng.
Theo phương pháp phân bổ gián tiếp, trước hết ta phải tổng hợp toàn bộ
các chi phí sau đó tiến hành phân bổ cho từng đối tượng cụ thể. Trình tự phân
bổ như sau:
Trước hết xác định hệ số phân bổ :
T
C
H
=
Trong đó :
C: Tổng chi phí phân bổ
T: Tổng các đại lượng của tiêu thức cần phân bổ của các đối tượng .
Tính số phân bổ cho từng đối tượng : Ci = Ti * H.
13
Luận văn tốt nghiệp
Trong đó: Ci: Là chi phí phân bổ cho từng đối tượng i.
2. Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm trong DNXD.
2.1. Khái niệm về phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Xuất phát từ đặc điểm của xây lắp cơ bản là sản phẩm mang tính đơn
chiếc, mỗi sản phẩm có một dự toán riêng và yêu cầu quản lý chi phí dự toán.
Do vậy đối tượng tính giá thành trong xây dựng cơ bản là các hạng mục công
trình đã hoàn thành, các giai đoạn công việc đã hoàn thành, các khối lượng
xây lắp có dự toán, thiết kế riêng đã hoàn thành. Trong trường hợp các DNXD
có tổ chức thêm các phân xưởng sản suất phụ, sản xuất vật liệu cung cấp cho
công trình thì tính giá thành là một lao vụ cung cấp.
Khi xác định đơn vị tính giá thành cũng phải xem xét trong trường hợp
cụ thể có đơn vị tính giá thành đản bảo cho đơn vị được tính thừa nhân trong
nền kinh tế quốc dân.
2.2. Căn cứ xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Căn cứ đối tượng xác định tính giá thành là:
- Dựa vào phương pháp đối tượng lập dự toán (cho công trình hay hạng
mục công trình ): Lập dự toán cho công trình hay hạng mục công trình là việc
xác định giá trị của công trình cả về mặt lượng và chất ,có nghĩa là ta lập dự
toán đến hạng mục, Công trình nào thì hạng mục công trình đó, đó chính là
đối tượng tính giá thành.
- Dựa vào phương thức thanh toán giữa hai bên (bên chủ công trình &
bên thi công):
Thanh toán 1 lần hay thanh toán nhiều lần .ở đây, giữa hai bên dã có sự
thoả thuận về thời gian thanh toán , có nghĩa là cứ đến một thời điểm nhất
định nào đó thì bên A sẽ thành toán cho bên B và giá trị cuả công trình tại
thời điểm đó chính là đối tượng tính giá thành.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét