Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Hà Nội

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 5
trạng tạm thời nhàn rỗi và tạm thời thiếu vốn ở các doanh nghiệp cũng nh
toàn bộ nền kinh tế .
Vậy tại sao quan hệ tín dụng lại cần thiết trong nền kinh tế thị trờng,
điều này đợc lý giải ở trên những khía cạnh sau:
1.2.1. Trong nền kinh tế thi trờng mỗi doanh nghiệp đều muốn đợc thể hiện
và khẳng định mình trên thơng trờng . Muốn thắng đợc đối thủ cạnh tranh
đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có đợc ba yếu tố đó là : Vốn; Lao động;
Khoa học công nghệ, trong đố có thể nói Vốn là yếu tố nền tảng hình thành nên
hai yếu tố còn lại. Nếu có vốn thì mỗi doanh nghiệp sẽ mua đợc máy móc
thiết bị , vây dựng nhà xởng v.v.v. Đồng thời họ cũng thuê đợc lao động ,
đào tạo đợc đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn ngày càng cao hơn.
Nhng rõ ràng là với số vốn tự có của mình thì bản thân mỗi doanh nghiệp sẽ
không thể đảm bảo đợc tất cả các mối quan hệ kinh tế , chính vì thế mà trong
nguồn vốn của doanh nghiệp luôn tồn tại hai nguồn chính đó là Nợ và Vốn chủ
sở hữu. Do đó quan hệ tín dụng đợc hình thành một cách khách quan trong
chính nhu cầu của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trờng , chỉ có quan
hệ tín dụng ra đời mới đáp ứng đợc nhu cầu của nền kinh tế nói chung , các
doanh nghiệp nói riêng . Ngân hàng sẽ là tổ chức tài chính trung gian cung cấp
nghiệp vụ đó , đồng thời là ngời điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu góp
phần làm ổn định và phát triển nền kinh tế .
1.2.2. Trong nền kinh tế thị trờng ở bất kỳ thời điểm nào cũng xuất hiện
tợng: Tạm thời thừa vốn và Tạm thời thiếu vốn
1.2.2.1. Tạm thời thừa vốn.
Thừa ở đây với nghĩa là tổ chức , đơn vị đó có một lợng vốn nhàn rỗi
trong một thời gian nhất định. Điều nay đợc thể hiện cụ thể trong từng chủ thể
của nền kinh tế .
- Chính phủ :
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 6
Trong nền kinh tế quốc dân việc thu chi xảy ra không đồng thời, thông
thờng các khoản thu nhập thì tạp trung theo định kỳ còn các khoả chi thì đợc
phân bổ dần dần nên trong một khoảng thời gian nhất định sẽ xuất hiện số tiền
nhàn rỗi từ Ngân sách nhà nớc
- Các doanh nghiệp :
Nguồn thu của các doanh nghiệp và nguồn chi của các doanh nghiệp có sự
không thống nhất về mặt thời gian vì những lý do: Hàng hoá sản xuất ra đã tiêu
thụ đợc ; Lơng của các công nhân cha đến hạn trả; Tiền cha phải trả do
mua chịu hàng hoá; Dự trữ của doanh nghiệp ; Cha phải thực hiện nghĩa vụ tài
chính và trả lãi suất Ngân hàng ; Các quỹ cha đợc sử dụng ; Lợi nhuận của
doanh nghiệp Điều này dẫn đến các doanh nghiệp luôn có một lợng vốn
nhàn rỗi trong một thời gian nhất định.
- Cá nhân ngời tiêu dùng:
Trong hoạt động sản suất kinh doanh , các cá nhân trong xã hội sẽ nhận
đợc phần thu nhập của mình dới các hình thức : tiền lơng, tiền thởng, phụ
cấp, lợi nhuận thu đợc Một phần của các phần thu nhập này không chỉ tiêu
dùng ngay mà còn để dành tiêu dùng trong tơng lai . Phần tiền để dành này
hình thành lợng vốn tiền tệ nhàn rỗi rất lớn trong nền kinh tế
- Nguồn vốn nhàn rỗi từ nớc ngoài:
Mỗi quốc gia vì lí do nh là muốn tham gia vào các tổ chức quốc tế hay là
để đảm bảo an toàn cho nên kinh tế cũng nh ổn định đồng tiền trong nớc họ
thờng giữ một khoản tiền tại các Ngân hàng ở nớc ngoài để giao dịch hay
một định chế tài chính quốc tế hoặc có một lợng vốn dồi dào mà không đêm
đầu t tiếp . Thơng mại quốc tế ngày càng mở rộng dẫn đến mỗi quốc gia đều
có một tài khoản của mình ở nớc ngoài để giao dịch . Chính những lí do đó đã
tạo nên một lợng vốn nhàn rỗi không nhỏ có thể sử dụng trong một thời gian
nhất định.
1.2.2.2. Tạm thời thiếu vốn.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 7
Thiếu vốn ở đây với nghĩa là tổ chức đơn vị đó thiếu lợng tiền mặt tạm
thời để trang trải cho những hoạt động kinh tế trớc mắt đòi hỏi phải chi tiền
mặt . Và điều này đợc thể hiện cụ thể trong từng chủ thể của nền kinh tế .
- Chính phủ:
Đóng vai trò là một chủ thể lớn điều hành thúc đẩy sự phát triển của một
đất nớc , Chính phủ thờng đầu t vào các dự án lớn nh cơ sở hạ tầng , các
công trình mang tính sống còn đối với lợi ích của quốc gia mà t nhân không
có đủ khả năng và điều kiện thực hiện . Nguồn vốn đầu t chính phủ lấy từ
Ngân sách nhà nớc (NSNN), nhng đôi khi NSNN không đủ vì cha đến hạn
thu thuế dẫn đến sự thiếu vốn đấu t Chính phủ phải đi vay
- Các doanh nghiệp :
Nh ta đã biết các doanh nghiệp khác nhau về điều kiện sản xuất kinh
doanh dẫn đến tuần hoàn luôn chuyển vốn khác nhau . Đồng thời mỗi doanh
nghiệp lại là một thực thể sở hữu khác nhau cho nên luôn tồn tại hai nhóm
doanh nghiệp này thừa vốn thì doanh nghiệp khác thiếu vốn vì cha bán đợc
hàng, cha thu đợc tiền nhng đã đến thời hạn phải thanh toán các khoản nợ ,
phải trả lơng Dẫn đến các doanh nghiệp có nhu cầu đợc vay vốn.
- Cá nhân:
Ngời tiêu dùng đôi khi có những khoản phải chi bất thờng hoặc những
khoản chi tiêu ngoài khả năng tài chính tạm thời của họ nhng họ có khả năng
bù đắp những thiếu hụt đó trong tơng lai . Điều này dẫn đến nhu cầu vay tiêu
dùng của cá nhân .
Từ sự phân tích ở trên ta thấy trong nền kinh tế luôn tồn tại hai nhu cầu
cho vay và đi vay . Hai nhu cầu này có đặc điểm chung là đều nhằm thoả mãn
nhu cầu hiện tại của các chủ thể kinh tế và nó xảy ra trong thời gian ngắn. Khác
nhau ở cho vay và đi vay là quyền sở hữu, ngời cho vay vẫn có quyền sở hữu
đối với khoản tiền cho vay còn ngời đi vay chỉ có quyền sử dụng đối với
khoản tiền đợc vay trong khoảng thời gian thoả thuận giữa hai bên. Để giải
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 8
quyết vấn đề Tạm thời thừa vốn và Tạm thời thiếu vốn thì quan hệ tín
dụng ra đời và nó không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại.
2. Chức năng và vai trò của tín dụng.
2.1. Chức năng của tín dụng.
Nhìn tổng thể tín dụng có hai chức năng:
- Huy động và phân phối nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi dới hình thức
cho vay.
- Giám đốc và kiểm soát bằng đồng tiền đối với các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Dùng tiền để xây dựng các chỉ tiêu, thớc đo để tiến hành quản lý
doanh nghiệp với các mục tiêu: Sử dụng vốn hiệu quả , hợp pháp và hợp lệ.
2.2. Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trờng.
Thứ nhất. Tín dụng là điều kiện đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra
thờng xuyên liên tục.
Trong một thời điểm trong nền kinh tế luân tồn tại hai nhóm doanh nghiệp:
Một nhóm tạm thời thừa vốn và muốn sử dụng số vốn nhàn rỗi này để kiếm
lời trong một thời gian nhất định. Một nhóm tạm thời thiếu vốn và muốn
tìm kiếm nguồn vốn nhàn rỗi khác để đáp ứng nhu cầu hiện tại. Nhờ hoạt động
tín dụng mà cả hai nhóm doanh nghiệp đều đợc thoả mãn về vốn và dẫn đến
quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thơng xuyên, liên tục, nguồn
vốn đợc sử dụng một cách tối đa.
Thứ hai. Tín dụng huy động, tập trung vốn thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế cũng cần phải có một
nguồn vốn đầu t lớn để đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm giá
thành sản phẩm, chiến thắng trong cạnh tranh. Nhng để có lợng vốn đầu lớn
nh vậy thì chỉ có quan hệ tín dụng với đáp ứng đợc điều đó bởi quan hệ tín
dụng sẽ tập trung huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và đáp
ứng nhu cầu đó.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 9
Thứ ba. Tín dụng góp phần nâng cao mức sống của dân c.
Một trong những ví dụ điển hình để minh chứng cho điều này là thông qua
quan hệ tín dụng mà những ngời có thu nhập thấp những ngời tàn tật đã có
đợc nhà ở, phơng tiện đi lại, điện thoại v.v. Bởi họ có thể sử dụng phơng
thức vay trả góp.
Thứ t. Là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nớc.
Nh ta đã biết cơ cấu kinh tế đợc quyết định bởi cơ cấu đầu t mà tín
dụng lại quyết định đến cơ cấu đầu t. Nhà nớc thông qua hoạt động của các
Ngân hàng thơng mại, chủ yếu là hoạt động tín dụng để điều chỉnh cơ cấu
kinh tế.
3. Các hình thức tín dụng Ngân hàng.
Hoạt động tín dụng Ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ: Cho vay, chiết
khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính.
3.1. Hoạt động cho vay.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của Ngân hàng thơng mại. Tuy
nhiên trong hoạt động tín dụng thì hoạt động cho vay đóng vai trò quan trọng
và chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản và nó cũng là hoạt động mang lại
lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng.
ứng với mỗi tiêu thức khác nhau ngời ta phân loại cho vay khác nhau, ta có
thể dựa trên những tiêu thức sau:
- Theo kỳ hạn nợ.
- Theo mục đích sử dụng vốn.
- Theo hình thức đảm bảo tiền vay.
- Theo phơng pháp hoàn trả .
- Theo loại hình tiền tệ.
3.1.1. Theo kỳ hạn nợ.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 10
Theo kỳ hạn nợ cho vay của Ngân hàng thơng mại(NHTM) đợc phân làm
ba loại: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn
- Cho vay ngắn hạn.
Là loại cho vay có kỳ hạn dới 1 năm và đợc sử dụng để bù đắp sự thiếu
hụt vốn lu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá
nhân. Khoản cho vay ngắn hạn chủ yếu tài trợ cho các hoạt động sau:
+ Cho vay mua hàng dự trữ.
Từ trớc tới nay, ngân hàng thờng cho các hãng vay ngắn hạn bổ xung
tạm thời vốn hoạt động. Trên thực tế cho tới sau chiến tranh thế giới thứ II,
ngân hàng chủ yếu tập trung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp dới hình thức
các khoản cho vay mang tính tự thanh toán (self-liquidating loans). Các khoản
cho vay này chủ yếu đợc sử dụng để tài trợ cho việc mua hàng dự trữ nh
nguyên liệu thô Các khoản cho vay nh vậy tận dụng đợc chu kỳ tiền mặt
thông thờng trong một hãng kinh doanh nh sau:
1. Tiền mặt đợc chi dùng mua dự trữ nguyên vật liệu và bán thành
phẩm hoặc thành phẩm.
2. Hàng hoá đợc sản xuất hoặc dữ trữ để bán.
3. Hàng đã bán(thờng là bán chịu).
4. Tiền mặt thu về( ngay khi bán hàng hoặc thu từ các khoản bán
chịu) và đợc dùng để trả các khoản vay ngân hàng.
Trong trờng hợp này, kỳ hạn của các khoản vay bắt đầu đợc tính từ khi hãng
cần vốn để đáp ứng yêu cầu mua hàng, kết thúc(có thể trong vòng từ 60 đến 90
ngày) khi hãng thu đợc tiền bán hàng và nhập vào tài khoản để trả nợ cho Ngân
hàng.
+ Cho vay vốn lu động.
Đây là những khoản cho vay ngắn hạn đối các hãng kinh doanh với kỳ hạn
kéo dài từ vài ngày đến 1 năm. Các khoản vay vốn lu động thờng đợc dùng để
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 11
mua hàng dự trữ hoặc mua nguyên vật liệu. Do đó chúng có những đặc điểm gần
giống với các khoản cho vay tự thanh toán nh đã đề cập ở trên.
Thông thờng các khoản vay vốn lu động đợc sử dụng để đáp ứng mức
sản xuất và nhu cầu tín dụng trong thời kỳ cao điểm của chu kỳ kinh doanh. Ví
dụ một hãng sản xuất quần áo dự đoán rằng nhu cầu đối với quần áo học sinh
vào mùa thu và quần áo ấm vào mùa đông là rất lớn. Do vậy hãng cần các
khoản tín dụng ngắn hạn vào cuối mùa xuân và mùa hạ để mua vải và thuê
thêm công nhân nhằm tăng sản lợng để đáp ứng hàng hoá cho ngời bán lẻ
trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 12 . Ngân hàng của hãng lập ra một hạn
mức tín dụng thời hạn từ 6 đến 9 tháng cho phép hãng sản xuất quần áo có thể
rút tiền trong suất giai đoạn này. Quy mô của hạn mức tín dụng đợc xác định
trên cơ sở dự tính về lợng vốn lớn nhất mà hãng có thể sẽ cần tại bất cứ thời
điểm nào trong suốt thời hạn của hợp đồng tín dụng.
Thông thờng các khoản cho vay vốn lu động đợc đảm bảo bằng các
khoản phải thu hoặc thế chấp bằng hàng tồn kho và khách hàng sẽ phải chịu lãi
suất thả nổi trên lợng tiền thực tế họ đã sử dụng. Khoản lệ phí cam kết đợc
tính trên phần tín dụng thuộc hạn mức không sử dụng và đôi khi tính trên toàn
bộ giá trị của hạn mức. Ngân hàng thờng yêu cầu khách hàng phải có số d bù
tiền gửi. Số d bù tiền gửi bao gồm lợng tiền gửi tối thiểu bắt buộc đợc xác
định trên cơ sở quy mô hạn mức tín dụng và một lợng tiền gửi bắt buộc bổ
xung bằng một tỉ lệ phần trăm quy định trên tổng lợng tín dụng mà khách
hàng thực sử dụng.
+ Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng.
Một hình thức cho vay ngắn hạn có bảo đảm phổ biến trong ngân hàng
thơng mại là cho vay hỗ trợ các công trình xây dựng, nhà ở, các toà nhà văn
phòng, trung tâm thơng mai, các công trình khác. Mặc dù thời gian xây dựng
công trình kéo dài nhng các khoản cho vay lại mang tính tạm thời. Các khoản
cho vay này cung cấp vốn cho bên thi công để thuê công nhân, thuê thiết bị xây
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 12
dựng, mua vật liệu xây dựng và giải phóng mặt bằng. Khi giai đoạn xây dựng
kết thúc, bên thi công thờng vay thế chấp dài hạn từ các tổ chức tài chính
khác, để lấy tiền thanh toán cho các khoản vay xây dựng ngắn hạn. Trong thực
tế chỉ khi Công ty xây dựng chắc chắn có một cam kết cho vay thế chấp để tiếp
tục tài trợ dài hạn cho các dự án sau khi kết thúc giai đoạn xây dựng thì ngân
hàng mới thực hiện các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn. Gần đây một vài
ngân hàng đã cho vay với thời hạn khá dài 5 đến 7 năm, cung ứng vốn cho việc
xây dựng và hoạt động trong giai đoạn đầu của công trình.
+ Cho vay kinh doanh chứng khoán.
Những ngời kinh doanh chứng khoán Chính phủ và chứng khoán t nhân
thờng cần sự hỗ trợ vốn ngắn hạn để mua chứng khoán mới và duy trì danh
mục đầu t chứng khoán hiện có cho tới khi các chứng khoán này đợc bán
hoặc đến hạn thanh toán. Các ngân hàng lớn nhất thờng sẵn sàng cho vay đối
với ngời kinh doanh chứng khoán vì những khoản cho vay này có chất lợng
cao, thờng đợc đảm bảo bằng chứng khoán Chính phủ do nhà kinh doanh
chứng khoán nắm giữ. Hơn nữa nhiều khoản vay kinh doanh chứng khoán có
kỳ hạn rất ngắn, chỉ là vay qua đêm hoặc vài ngày. Nhờ vậy ngân hàng có thể
nhanh chóng thu hồi vốn hoặc cho vay các khoản mới với lãi suất cao hơn nếu
thị trờng tín dụng trở nên căng thẳng.
Một hình thức tín dụng khác thuộc loại này là cho vay đối với các tổ chức
ngân hàng đầu t. Hỗ trợ cho hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu , cổ
phiếu công ty và các giấy nợ của Chính phủ. Việc bảo lãnh phát hành chứng
khoán thờng diễn ra khi ngân hàng đầu t giúp đỡ khách hàng trong việc mua
lại công ty khác, giúp đỡ Công ty phát hành chứng khoán lần đầu, phát hành
thêm cổ phiếu để tăng quy mô vốn kinh doanh hiện có, hoặc hỗ trợ doanh
nghiệp thực hiện hoạt động đầu t mới. Khi ngân hàng bán chứng khoán mới
cho các nhà đầu t trên thị trờng vốn thì khoản vay cùng với lãi sẽ đợc hoàn
trả.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 13
+ Cho vay kinh doanh bán lẻ.
Các ngân hàng hỗ trợ ngời tiêu dùng trong việc mua trả góp xe máy, đồ
dùng gia đình, nội thất và các hàng hoá lâu bền khác bằng cách tài trợ cho các
khoản phải thu mà ngời bán những hàng hoá này sẽ nhận đợc sau khi họ ký
hợp đồng bán trả góp. Hợp đồng trả góp sẽ đợc ngân hàng của ngời bán lẻ
xem xét. Nếu đáp ứng các yêu cầu tín dụng, ngân hàng sẽ mua những hợp
đồng này với một mức lãi suất thay đổi tuỳ theo chất lợng tín dụng ngời vay
vốn, chất lợng của vật thế chấp và thời hạn của mỗi khoản vay.
Đối với ngời kinh doanh mô tô, ti vi, đồ nội thất và các hàng hoá lâu bền
khác Ngân hàng có thể tài trợ dự trữ tồn kho thông qua việc xác định kế hoạch
sản xuất. Ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho ngời bán lẻ để họ có thể yêu cầu
hãng sản xuất chuyển hàng. Lúc đầu hầu hết các khoản vay nh vậy có kỳ hạn
90 ngày và sau đó nó có thể đợc tái gia hạn với thời gian một tháng hay vài
tháng. Để có đợc khoản tín dụng này ngời bán lẻ phải ký hợp đồng bảo đảm
an toàn cho phép ngân hàng có quyền sở hữu hàng hoá trong trờng hợp họ
không thể thanh toán khoản vay. Sau đó, nhà sản xuất sẽ có thể chuyển hàng
cho ngời bán lẻ và gửi đơn thanh toán cho ngân hàng. Định kỳ ngân hàng sẽ
cử cán bộ đến kiểm tra hàng hoá trong kho của ngời bán lẻ để xác đinh lợng
hàng đã đợc bán và lợng hàng tồn kho. Sau khi bán đợc hàng hoá, ngời
bán lẻ sẽ gửi séc tới ngân hàng để thanh toán dần khoản nợ cho ngân hàng.
Nếu cán bộ ngân hàng xác định thấy bất kỳ một hàng hoá nào đã đợc bán
mà ngân hàng không nhận đợc tiền thanh toán thì cán bộ ngân hàng sẽ yêu
cầu ngời bán lẻ viết ngay séc trả tiền cho số hàng hoá đó. Nếu ngời bán lẻ
không thanh toán đợc, ngân hàng có thể buộc thu hồi hàng và trả một phần
hoặc toàn bộ số hàng đó cho nhà sản xuất kinh doanh để thu hồi số vốn cho
vay. Hợp đồng kế hoạch sàn thơng bao gồm một khoản dự phòng tổn thất tín
dụng, tích luỹ các khoản lãi thu đợc khi ngời vay trả tiền.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A. 14
Quy mô của quỹ dự phòng sẽ giảm nếu có bất cứ khoản vay nào không đợc
hoàn trả. Khi dự phòng tổn thất tín dụng đạt tới mức định trớc, ngời bán lẻ sẽ
đợc giam trừ một phần số lãi của hợp đồng trả góp.
+ Cho vay trên tài sản.
Trong những năm gần đây, những khoản cho vay trên tài sản là khoản tín
dụng đợc đảm bảo bằng các tài sản ngắn hạn của hãng đợc dự tính sẽ
chuyển thành tiền mặt trong tơng lai. Ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn trong
tổng cho vay ngắn hạn. Tài sản chủ yếu đợc dùng để bảo đảm cho các khoản
vay bao gồm các khoản phải thu, nguyên vật liệu hoặc thành phẩm tồn kho.
Ngân hàng cho vay theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị ghi sổ của tài
khoản phải thu, hoặc trên giá trị hàng tồn kho. Ví dụ ngân hàng có thể sẵn sàng
cho vay một khoản tiền bằng 70% khoản phải thu trên tài khoản thanh toán
vãng lai của doanh nghiệp. Một cách khác ngân hàng có thể cho vay tới 40%
giá trị hàng tồn kho hiện tại của doanh nghiệp gồm hàng hoá đang bán hoặc
hàng hoá trong kho. Khi thu hồi đợc các khoản phải thu hoặc bán đợc hàng
doanh nghiệp sẽ chuyển một phần tiền mặt thu về tới ngân hàng để trả nợ tiền
vay.
Đối với hầu hết những khoản vay đợc thế chấp bằng các khoản phải thu
hay hàng tồn kho doanh nghiệp đi vay vẫn có quyền sở hữu đối với các tài sản
đó. Tuy nhiên đôi khi quyền sở hữu cũng đợc chuyển sang cho ngân hàng để
hạn chế rủi ro khi một số khoản nợ không đợc thanh toán nh dự tính.
- Cho vay trung hạn.
Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, loại tín dụng này chủ yếu
đợc sử dụng để đầu t mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết
bị, công nghệ mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy
mô nhỏ và có thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét