Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Tài liệu Linh kiện và Lắp ráp máy tính pptx

Sau Socket 370, Intel lại tiếp tục giới thiệu các phiên bản khác của nó là các giao diện FC-
PGA (Flip Chip-Pin Grid Array) và FC-PGA2 sử dụng với các BXL Pentium III Coppermine
và Tualatin. Lợi ích của các công nghệ đóng gói này là phần nóng nhất của BXL sẽ nằm ở
mặt không tiếp xúc với Mainboard, do vậy khả năng tản nhiệt được cải thiện. Công nghê FC-
PGA2 còn hỗ trợ thêm một bộ tản nhiệt tích hợp (Integrated Heat Speader) cho phép tăng
cường khả năng dẫn nhiệt tốt hơn nữa. FC-PGA và FC-PGA2 tương thích về mặt cơ học với
Socket 370, nhưng về mặt tín hiệu điện, chúng không tương thích với nhau. các BXL FC-PGA
yêu cầu các Mainboard hỗ trợ đặc tả kỹ thuật VRM 8.4 (VRM 8.4 Specification) trong khi các
BXL FC-PGA2 đòi hỏi hỗ trợ VRM 8.8.
Tương tự như Slot 1 của Intel, giao diện Slot A của AMD cũng có một “đời sống khá ngắn
ngủi”. Với sự sáng tạo ra Athlon Thunderbird và Spitfire, AMD đã theo chân người khổng lồ
Intel bằng cách chuyển sang sử dụng công nghệ đóng gói theo kiểm PPGA trong dòng BXL
Athlon và Duron của mình. Các BXL này được kết nối vào Mainboard thông qua một giao diện
mà AMD gọi là Socket A. Giao diện này có 462-pin (chân tín hiệu), trong đó có 453 chân
được BXL sử dụng, và hỗ trợ các kênh dữ liệu 200Mhz EV6 và 266Mhz EV6. Các mã CPU
Palomino và Morgan sau này của AMD cũng tương thích với Socket A.
Với sự ra đời của Pentium 4 vào cuối năm 2000, Intel đã giới thiệu thêm một công nghệ đóng
gói theo kiểm để gắn khác là Socket 423. Như một biểu trưng cho xu hướng các BXL tiêu thụ
ít năng lượng, công nghệ đóng gói socket 423 theo kiểu PGA này có mức điện áp hoạt động
trong khoảng từ 1.0V – 1.85V theo đặc tả VRM. Socket 423 được sử dụng trong khoảng vài
tháng thì Intel lại tiếp tục giới thiệu công nghệ đóng gói mới là socket 478. Điểm khác nhau
chính giữa hai loại đế gắn này là socket 478 có mật độ sắp xếp các chân dữ liệu dày hơn
theo giao diện µPGA (Micro Pin Grid Array), điều này khiến cho kích thước của CPU và không
gian bị chiếm dụng bới đế gắn CPU trên Mainboard giảm đi rất đáng kể. Socket 423 được giới
thiệu nhằm sử dụng cho công nghệ CPU Pentium 4 Northwood 0.13 µm vào đầu năm 2002.
Sau đây là bảng tổng hợp các giao diện CPU thường thấy trên Mainboard, kể từ kiến trúc đế
gắn socket 1 – đế gắn dành cho các CPU 486 và Overdrive vào những năm đầu của thập kỷ
1990.
Tên Giao diện Mô tả
Socket
1
169-pin
(169chân
tín hiệu)
Được thiết kế trên các Mainboard 486, hoạt động với điện áp 5 Volt
và hỗ trợ các CPU 486, các bộ nâng cấp CPU (CPU OverDrive) DX2 và
DX4.
Socket
2
238-pin
Là một giao diện có sửa đổi một chút từ Socket 1 nhưng cho phép hỗ
trợ thêm Pentium CPU OverDrive.
Socket
3
237-pin
Hỗ trợ điện áp 5 volt và 3.3Volt. Mainboard có các Jumper cho phép
lựa chọn điện áp phù hợp. Nó hỗ trợ các CPU như Socket 2 cộng thêm
các CPU 586.
Socket
4
273-pin
Là đế gắn (Socket) đầu tiên dùng cho dòng CPU Pentium. Hoạt động
ở mức điện áp 5 volt, do đó nó chỉ hỗ trợ các Bộ Xử lý (CPU) Pentium
60/66 Mhz. Kể từ BXL (CPU) Pentium-75Mhz, Intel chuyển qua sử
dụng công nghệ 3.3Volt.
Socket
5
320-pin
Hoạt động ở mức điện áp 3.3 volt và hỗ trợ các BXL dòng Pentium từ
75Mhz cho tới 133Mhz. Nó không tương thích với các đời BXL sau này
bởi chúng đòi hỏi thêm 1 chân tín hiệu (1 additional signal pin).
Socket
6
235-pin
Được thiết kế cho các BXL 486. Là phiên bản được cải tiến của Socket
3 hoạt động ở mức điện áp 3.3 volt. Nó xuất hiện vào thời điểm các
BXL 486 chuẩn bị được thay thế bởi BXL Pentium.
Socket
7
320-pin
Được thiết kế dành cho BXL Pentium MMX của Intel. Đế gắn có hỗ
trợ khả năng phân chia điện áp Lõi/Nhập Xuất (Core/IO voltage) theo
yêu cầu của Pentium MMX và các BXL sau này. Giao diện đế gắn này
được sử dụng cho tất cả các dòng CPU khác (như AMD K6) sử dụng
kênh truyền hệ thống 66Mhz.
Socket
8
387-pin
Dành riêng cho BXL Intel Pentium Pro, đế gắn này đã đẩy chi phí
sản xuất lên quá cao nên đã nhanh chóng bị thay thế bằng thiết kế
dạng hộp (cartridge-based).
Slot 1
242-way
connector
(242-điểm
tiếp xúc)
Giao diện “khe gắn” – slot- được dùng cho kiến trúc BXL dạng hộp
(cartridge). Mạch điều khiển bên trong hộp của BXL chứa 512KB cach
L1 – bao gồm 2 chip nhớ 256KB- Cache L1 này sẽ hoạt động với tốc
độ bằng ½ tốc độ của BXL. Slot 1 được sử dụng cho các BXL Intel
Pentium II, Pentium III và Celeron đời đầu.
Slot 2
330-way
connector
Tương tự Slot 1, nhưng cho phép hỗ trợ dung lượng cache L1 tới 2MB
và chạy cùng tốc độ với BXL. Được sử dụng cho các dòng BXL Intel
Pentium II/III Xeon chuyên dụng làm Server .
Slot A
242-way
connector
Là giao diện dùng cho các BXL của hãng AMD. Nó có giao diện cơ học
(mechanical interface) tương thích với Slot 1 nhưng sử dụng giao diện
điện (electrical interface) hoàn toàn khác. Được sử dụng với BXL AMD
Athlon đầu tiên.
Socket
370
370-pin
(370-chân
tín hiệu)
Được thiết kế nhằm thay thế cho công nghệ Slot 1. Nó bắt đầu với
dòng BXL Intel Celeron từ đầu năm 1999. các dòng BXL Intel
Pentium III Coppermine và Tulatin (trong các phiên bản gọi là FC-
PGA và FC-PGA2) cũng sử dụng khe gắn này.
Socket
A
462-pin
Là giao diện của AMD được giới thiệu với các BXL Athlon đầu tiên
(Thunderbird) với L2 cache tích hợp. Các dòng BXL AMD sau này cũng
sử dụng Socket A.
Socket
423
423-pin
Được thiết kế hỗ trợ các chân tín hiệu mới theo yêu cầu của kênh
truyền kệ thống (FSB) thuộc dòng BXL Intel Pentium 4. Dòng BXL
này có một tản nhiệt tích hợp (HIS-Integrated Heat Speader) vừa làm
nhiệm vụ bảo vệ nhân BXL (CPU die) vừa cung cấp bề mặt để gắn bộ
tản nhiệt loại lớn.
Socket
603
603-pin
Giao diện gắn các BXL Intel Pentium 4 Xeon (chuyên dụng cho các
máy Chủ – Server- chuyên nghiệp). Các chân tín hiệu cộng thêm cung
cấp thêm sức mạnh cho các thế hệ BXL tương lai với các Cache L3 tích
hợp trên nhân BXL (on-die) hoặc trên mạch (off-die) nhằm hỗ trợ các
kênh truyền thông giữa các BXL (inter-processor Communications)
trong các hệ thống máy tính sử dụng nhiều BXL.
Socket
478
478-pin
Được thiết kế đồng thời với việc giới thiệu công nghệ xử lý 0.13Micron
dành cho BXL Intel Pentium 4 Northwood vào đầu năm 2002.
Giao diện Micro Pin Grid Array (µPGA) của nó cho phép giảm kích
thước của BXL và của đế gắn trên mainboard.
Socket 7:
Là một chân đế (khe gắn) được thiết kế trên Mainboard dành riêng để gắn các CPU
Pentium. Đó cũng có thể được dùng để gắn các bộ xử lý tương thích Pemtium từ các hãng
sản xuất khác như các CPU K5 và K6 của hãng AMD.
Sưu tầm
Tìm hiểu bo mạch chủ
Bo mạch chủ (mainboard) là một bảng gồm những mạch điện tử có gắn vi xử lý,
bộ nhớ, khe cắm mở rộng, cổng bus… để kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp tới mọi
phần của máy tính. 25 năm đã trôi qua kể từ khi bo mạch chủ PC ra đời, dù diện
mạo đổi thay nhiều nhưng chức năng vẫn như ban đầu.
Bo mạch chủ của máy tính trong ti ế ng Anh là motherboard hay mainboard và thường được nhiều
người gọi tắt là: mobo, main.
Cách thiết bị thường có mặt trên bo mạch chủ
Trong các thiết bị điện tử Bo mạch chủ là một b ả n m ạ ch đóng vai trò là trung gian giao tiếp giữa các
thiết bị với nhau. Một cách tổng quát, nó là mạch điện chính của một hệ thống hay thiết bị điện tử.
Có rất nhiều các thiết bị gắn trên bo mạch chủ theo cách trực tiếp có mặt trên nó, thông qua các kết
nối cắm vào hoặc dây dẫn liên kết, phần này trình bày sơ lược về các thiết bị đó, chi tiết về các thiết
bị xin xem theo các liên kết đến bài viết cụ thể về chúng.
• Chipset c ầ u b ắ c cùng với chipset c ầ u nam sẽ quyết định sự tương thích của bo mạch chủ đối
với các CPU
• Chipset c ầ u nam
• BIOS : Thiết bị vào/ra cơ sở, rất quan trọng trong mỗi bo mạch chủ, chúng có thể được thiết
đặt các thông số làm việc của hệ thống. BIOS có thể được liên kết hàn dán trực tiếp vào bo mạch
chủ hoặc có thể được cắm trên một đế cắm để có thể tháo rời.
• Các linh kiện, thiết bị khác: Hầu hết còn lại là linh kiện điện tử (giống như các linh kiện điện
tử trong các bo mạch điện tử thông thường).
s
Sự cải tiến của bo mạch chủ
Máy tính nguyên thủy có rất ít thiết bị tích hợp. Chúng chỉ có các cổng, bàn phím và
hộp băng lưu trữ. Thiết bị điều hợp màn hình hay điều khiển ổ mềm, ổ cứng đều được
kết nối qua khe cắm mở rộng.
Đây là mặt trước và mặt sau của mẫu bo mạch chủ IBM dành cho PC đầu tiên vào
năm 1981. Các chip được nối với nhau như một cái lưới. Ảnh: International Business
Machines Corporation.
Về sau, có nhiều thiết bị hơn được tích hợp vào bo mạch chủ. Dù vậy, quá trình này
cũng khá lâu dài, ví dụ cổng I/O (nối cáp đầu vào/đầu ra) hay thiết bị điều khiển đĩa
thường được kết nối bằng thẻ mở rộng cho đến năm 1995. Nhiều thiết bị khác liên
quan đến đồ họa, mạng, âm thanh vẫn tách rời khỏi mainboard.
Nhiều hãng sản xuất đã thử nghiệm với nhiều mức độ tích hợp khác nhau. Tuy nhiên,
việc này cũng gây ra nhiều hạn chế vì người dùng sẽ khó nâng cấp một tính năng nào
đó, ví dụ, bạn muốn đẩy khả năng đồ họa lên cao sẽ đồng nghĩa với việc thay cả
mainboard.
Do đó, các bộ phận cần nâng cấp nhiều như RAM, CPU và vi xử lý đồ họa thường
được đặt ở khe cắm dạng slot (cắm đứng) hay socket (đặt nằm) để dễ thay thế. Các bộ
phận ít được sử dụng tới như SCSI sau này bị bỏ đi để giảm chi phí sản xuất.
Hiện tại bo mạch chủ tích hợp các chip đồ họa, mạng… thường xuất hiện ở dòng máy
tính giá rẻ. PC cấu hình cao dùng cho việc chơi game hay thiết kế đồ họa, xử lý phim
ảnh thường dùng bo mạch chủ không tích hợp để tiện nâng cấp.
Trên bo mạch chủ trước kia, vào khoảng năm 1995, vi xử lý dạng socket rất phổ biến.
Đến cuối năm 1998, dạng slot bắt đầu chiếm lĩnh thị trường, mở đầu là Slot 1 ở dòng
Pentium II.

Tìm hiểu về bus
Thiết kế PC hiện nay dùng nhiều bus khác nhau để kết nối các bộ phận của chúng.
Tuy nhiên, bus rộng và có tốc độ cao rất khó sản xuất do các tín hiệu truyền đi với tốc
độ “chóng mặt”, đến mức ngay cả khoảng cách chỉ vài centimetre cũng gây lỗi định
thời gian. Ngoài ra, các rãnh kim loại trên bản mạch có tác dụng như chiếc anten vô
tuyến thu nhỏ, truyền tiếng ồn điện từ gây ra tình trạng nhiễu các tín hiệu ở những chỗ
khác trong hệ thống. Vì vậy, các kỹ sư thiết kế PC luôn đặt bus nhanh ở chỗ có diện
tích nhỏ hẹp và bus chậm ở nơi thoáng hơn.
Bus là hệ thống dây nối để truyền dữ liệu từ bộ phận này đến bộ phận khác trong máy
tính. Nói một cách ví von, bus giống như con đường cao tốc, càng rộng càng truyền
được nhiều dữ liệu đi với tốc độ cao.
Tất cả các bus đều bao gồm 2 phần: bus địa chỉ và bus dữ liệu. Bus dữ liệu sẽ chuyển
dữ liệu thực sự, còn bus địa chỉ sẽ truyền thông tin về đích đến của thông tin đó.
Kích thước của bus, được hiểu như độ rộng của đường cao tốc, là yếu tố quan trọng
quyết định lượng dữ liệu được chuyển đi mỗi lần. Ví dụ, bus 16 bit, 32 bit… có thể
truyền từng đó dữ liệu một lần.
Mỗi bus đều có xung đồng hồ được đo bằng MHz. Bus càng nhanh thì dữ liệu được
chuyển đi càng nhanh, giúp cho ứng dụng trên máy tính hoạt động trơn tru và nhanh
nhẹn hơn. Trên PC, bus ISA đang dần được thay thế bằng bus có tốc độ nhanh hơn
như PCI. Hầu hết máy tính hiện nay đều có bus nội dành cho dữ liệu, yêu cầu tốc độ
truyền tải nhanh như tín hiệu video. Bus nội này như một con đường cao tốc nối trực
tiếp với vi xử lý.
Theo vnexpress.net
Tìm hiểu các linh kiện
Lắp máy tính (1): Tìm hiểu các linh kiện
Nếu mớ dây nối loằng ngoằng, các bản mạch trông như mê cung
khiến người chưa biết nhiều về máy tính bối rối, hãy thử tự lắp
ráp chúng. Chủ đề này bắt đầu bằng việc tìm hiểu các bộ phận
cấu thành nên chiếc PC.
Về tổng thể, một bộ PC bao gồm 2 phần chính là màn hình và bộ xử lý trung tâm
CPU. Màn hình là nơi hiển thị kết quả xử lý và quá trình thao tác với máy tính. Còn
bộ xử lý trung tâm nằm trong một hộp kim loại (gọi là case), bao gồm nhiều vi mạch
điện tử, ổ lưu trữ, quạt gió… bên trong và các cổng giao tiếp (để cắm các đầu dây, ổ
nhớ rời…) ở bên ngoài.
Phần màn hình
- Màn hình: Hiện có 2 loại CRT và LCD với kích thước từ 14 inch trở lên. Màn CRT
loại cong có hại cho mắt vì các tia cathode phóng trực tiếp về phía trước; màn CRT
Ảnh: Scotch.
phẳng và LCD hạn chế tác hại hơn do các tia này bị phân tán. Nếu chỉ có CRT cong,
người dùng có thể mua thêm tấm kính chắn với giá chỉ 2-3 chục nghìn.
- Chuột: Đây là thiết bị ngoại vi dùng để thao tác trên màn hình máy tính. Hiện có các
loại chuột bi, chuột quang, chuột không dây có gắn Bluetooth với giá dao động từ vài
chục nghìn đến hơn một triệu đồng.
- Bàn phím: Đây cũng là thiết bị ngoại vi dùng để nhập dữ liệu. Bàn phím có nhiều
loại, từ loại thường giá chưa đến một trăm nghìn tới bàn phím không dây hoặc loại có
thiết kế đặc biệt giá hơn một triệu đồng.
Phần case
- Bộ vi xử lý: là trung tâm tính toán, xử lý dữ liệu của máy tính với hàng triệu phép
tính/giây. Gần đây, nhiều người nhắc đến sức mạnh của vi xử lý lõi kép với 2 nhân
trên một chip, giúp tốc độ tính toán nhanh hơn và do đó, giá cả cũng đắt hơn.
- Bo mạch chủ (mainboard): là nơi để gắn các thiết bị như chip, card đồ họa, card âm
thanh, ổ cứng… Nó đóng vai trò là một “trung tâm điều phối”, giúp cho mọi thiết bị
máy tính hoạt động nhịp nhàng và ổn định. Giá cả của bo mạch chủ tùy biến theo số
thiết bị đã được tích hợp sẵn (trong các báo giá có từ “on-board”).
- Ổ cứng: là nơi lưu trữ dữ liệu. Dung lượng ổ cứng càng lớn thì càng lưu được nhiều
dữ liệu và giúp cho máy chạy êm khi có nhiều không gian trống.
- RAM: bộ nhớ trong tạm thời là nơi lưu mọi hoạt động của các chương trình chạy trên
máy tính. Khi RAM càng lớn, các chương trình vận hành trơn tru và nhanh hơn.
- Card đồ họa: là thiết bị xử lý hình ảnh, video. Khi card đồ họa mạnh, hình ảnh hiển
thị trên máy tính sẽ sắc nét và có nhiều hiệu ứng thật hơn. Những người chơi game
“nặng” và hay làm việc với đồ họa sẽ yêu cầu cầu cao đối với thiết bị này. Chú ý một
số mainboard đã tích hợp sẵn card đồ họa.
- Card âm thanh: là thiết bị xử lý âm thanh, giúp cho người dùng nghe được tiếng trên
máy tính. Một số mainboard cũng tích hợp sẵn card này.
- Card mạng: là thiết bị hỗ trợ nối mạng Internet hay mạng nội bộ. Có loại card mạng
tích hợp sẵn trên bo mạch chủ, có loại card mạng rời phải mua riêng.
- Ổ đa phương tiện: các loại ổ CD trước đây hiện đang bị DVD “qua mặt” vì chúng có
khả năng đọc cả CD lẫn DVD. Ngoài ra, nếu có nhu cầu, người dùng có thể mua loại
ổ DVD đọc-ghi DVD hay đọc DVD, ghi được CD.
- Ổ mềm: loại ổ lưu trữ này hiện đang “mất giá” vì bản thân đĩa mềm lưu dữ liệu
không nhiều và hay hỏng. Nếu có USB gắn ngoài, bạn không cần đến loại ổ này.
- Quạt gió: là thiết bị nhỏ nhưng rất cần thiết để làm mát những bộ phận tạo nhiệt
trong quá trình hoạt động. Trục trặc ở quạt gió dễ làm thiết bị nóng quá mức và hỏng
hẳn. Nhiều hãng để chỗ gắn quạt gió ở khắp mọi nơi như chip, nguồn, ổ cứng… Tuy
nhiên, một quạt đường kính 120 mm ở case rộng rãi cũng có thể đảm bảo an toàn cho
máy tính. Xem thêm bài này.
- Nguồn điện: là nơi chuyển điện từ ngoài vào trong máy. Nguồn điện là thiết bị quan
trọng trong việc giữ cho điện áp ổn định, giúp các thiết bị trong case được an toàn khi
có sự cố. Nguồn điện có công suất lớn phù hợp với những máy gắn nhiều thiết bị tiêu
tốn điện năng như quạt làm mát bằng nước, ổ cứng có tốc độ quay cao, ổ DVD nhiều
chức năng…
Bạn cũng có thể mua thêm loa ngoài, webcam, ổ USB, ổ cứng ngoài… để phục vụ
nhu cầu giải trí và làm việc của mình. Chú ý khi tự chọn mua linh kiện lắp ráp, người
dùng cần xem chúng có tương thích với nhau hay không. Bạn có thể tìm thông tin trên
mạng về những dòng sản phẩm này để quyết định chính xác.
Chuẩn bị lắp ráp
- Dụng cụ cần dùng là một tô-vít 4 cạnh.
- Nơi để máy tính cần khô và thoáng, ít bụi bẩn. Bề mặt để máy tính cần phẳng và
vững chắc.
T.H.
Gắn linh kiện trên bo mạch chủ
Lắp máy tính (2): Gắn linh kiện trên bo mạch chủ
Bo mạch (mainboard) là trung tâm kết nối và điều phối mọi hoạt động của các thiết bị
trong máy tính. Lắp ráp linh kiện vào bảng mạch này cần sự cẩn thận và một số mẹo
nhỏ.
Một trong các loại bo mạch chủ. Ảnh: Cdrinfo.
Chú ý trước khi lắp
- Mặc dù bo mạch chủ đã được gắn ở vị trí cố định bên trong hộp máy, vị trí của các
card tích hợp sẵn và các loại ổ (cứng, mềm, CD) trong khoang có thể thay đổi đến
một giới hạn nào đó. Tuy nhiên, tốt hơn hết là đặt chúng cách xa nhau vì dây cáp nối
bị chùng một đoạn khá lớn. Để các thiết bị xa nhau cũng tạo khoảng không gian
thoáng đãng, tránh tương tác điện từ gây hại.
- Bo mạch chủ chứa các bộ phận nhạy cảm, dễ bị “đột quỵ” vì tĩnh điện. Do đó, bảng
mạch này cần được giữ trong trạng thái chống tĩnh điện nguyên vẹn trước khi lắp ráp.
Sản phẩm được bọc trong một bao nhựa đặc biệt, trên đó có quét các vệt kim loại. Vì
vậy, trước khi lắp linh kiện, không nên để bảng mạch hở ra khỏi bao nhựa trong thời
gian dài. Trong quá trình lắp ráp, bạn cần đeo một vòng kim loại vào cổ tay có dây
nối đất. Loại vòng này có bán ở các cửa hàng tin học hoặc bạn tự chế bằng cách quấn
một đoạn dây đồng nhiều lõi vào cổ tay và nối tiếp đất. Đây cũng là yêu cầu khi lắp
các loại card.
- Cần thao tác cẩn thận với các linh kiện. Nếu một vật như tô-vít rơi vào bo mạch chủ,
nó có thể làm hỏng những mạch điện nhỏ, khiến cả thiết bị này trở nên vô dụng.
Quy trình lắp ráp
Bạn cần xác định xem case này có gắn đệm phủ hợp để đặt bảng mạch không. Miếng
đệm này có tác dụng tránh cho bo mạch chủ chạm vào bề mặt kim loại của case sau
khi lắp đặt, tránh chập mạch hoặc hỏng hóc khi máy tính bị va đập.
Bất kỳ case mới nào cũng có loại đệm bằng nhựa hay kim loại. Chúng có thể được lắp
sẵn vào case hoặc không.
- Đặt tấm vỏ máy rời trên mặt bàn và gắn bo mạch lên một cách nhẹ nhàng rồi siết
chặt đinh ốc.
Ảnh: Source Force.
- Nhẹ nhàng đưa vi xử lý vào khe ZIF (viết tắt của từ Zero Insertion Force), không
cần dùng sức. Nếu được đặt đúng, nó sẽ trôi vào khe. Chú ý chân răm số 1 phải được
đặt chính xác. Nếu không thể đặt bản chip thăng bằng, chú ý không được ấn. Khi lắp
vi xử lý xong, khóa khe này bằng cái lẫy.
Ảnh: Source Force.
Các cửa hàng có bán chip đã gắn sẵn cùng quạt gió ngay trên bo mạch chủ. Nếu muốn
“tận hưởng” cảm giác của dân tự lắp máy, bạn có thể mua loại chip rời. Tùy theo kiểu
khe cắm slot (cắm đứng) hay socket (đặt nằm ngang) trên các hệ máy khác nhau, việc
lắp chip có khác nhau đôi chút.
Bôi một lớp keo IC mỏng (hoặc dán giấy dẫn nhiệt)
lên đáy quạt chip. Vật liệu này giúp hơi nóng trong
quá trình vi xử lý được dẫn lên quạt gió. Sau khi bôi
keo, đặt quạt gió lên vi xử lý và khóa các lẫy tương
ứng. Chú ý, cần làm sạch bề mặt trước khi bôi keo, có
thể dùng cồn. Ảnh: Source Force.
- Lắp RAM
Đặt bản RAM vào khe slot và nhấn xuống, hai miếng nhựa màu trắng hai bên sẽ tự
động “quặp” chặt khi thanh RAM vào khe vừa vặn. Trên bo mạch có chỗ đặt vài
thanh và dung lượng của chúng sẽ được cộng với nhau. Trong trường hợp RAM hỏng,
bạn chỉ cần nhấc ra khỏi khe và cắm lại RAM mới. Cách cắm SDRAM, DDRAM,
RDRAM… có đôi chút khác biệt.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét